10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang (điểm cao)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Qua đèo ngang (Bà Huyện Thanh Quan) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang

a. Mở bài:

- Giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan, nội dung chính bài thơ Qua Đèo Ngang.

b. Thân bài:

- Hai câu đề:

+ Thời gian: “bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả, vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng.

+ Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang:

“Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng.

Điệp từ: “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống.

=> Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

Quảng cáo

- Hai câu thực:

+ Giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn con người xuất hiện:

+ Lom khom - tiều vài chú: hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi.

Lác đác - chợ mấy nhà: hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông.

=> Nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Cảnh vật và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu, cô quạnh.

- Hai câu luận:

+ Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa).

+ Mà ở đây, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương.

=> Hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của Bà Huyện Thanh Quan.

- Hai câu kết:

Quảng cáo

+ Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông).

+ Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” - đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi.

=> Hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn.

c. Kết bài:

Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 1

"Qua Đèo Ngang" là một trong những bài thơ kiệt tác của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan. Được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh hùng vĩ, thơ mộng mà còn là một khúc tâm tình đầy xúc động về nỗi sầu của con người trước thời thế và không gian mênh mông.

Quảng cáo

Mở đầu bài thơ, chỉ với hai câu đề, tác giả đã giới thiệu một cách tự nhiên không gian và thời gian: "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà". Câu thơ vừa kể, vừa tả. Hành động "bước tới" cho thấy sự chủ động của người lữ khách, nhưng cũng gợi sự mỏi mệt của một hành trình dài. Thời điểm "bóng xế tà" – chiều muộn, hoàng hôn – là thời khắc đặc biệt trong thơ ca cổ điển, thường gợi lên nỗi buồn man mác, sự đoàn tụ gia đình và niềm khao khát quê hương. Ngay lập tức, khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang hiện ra với những nét chấm phá đầy ấn tượng: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Nghệ thuật đảo ngữ và điệp từ "chen" được sử dụng tài tình. Từ "chen" vừa diễn tả sự chen chúc, sinh sôi nảy nở của cỏ cây, hoa lá trong điều kiện khắc nghiệt của núi đá, vừa ẩn dụ cho sự chen chúc, bon chen của cuộc đời. Bức tranh thiên nhiên hiện lên vừa hoang sơ, vừa tràn đầy sức sống.

Đến với hai câu thực, bức tranh phong cảnh được mở rộng hơn với sự xuất hiện của vài nét sinh hoạt hiếm hoi của con người:

"Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà."

Bằng nghệ thuật đảo ngữ, từ láy tượng hình "lom khom" và từ láy tượng thanh "lác đác" được đưa lên đầu câu, nhấn mạnh dáng vẻ nhỏ bé, chịu thương chịu khó của người tiều phu và sự thưa thớt, vắng vẻ của cảnh chợ chiều. Hình ảnh "tiều vài chú" và "chợ mấy nhà" càng làm tăng thêm vẻ heo hút, hoang sơ của Đèo Ngang. Con người xuất hiện, nhưng dường như chỉ càng tô đậm thêm nỗi cô đơn của lữ khách. Nếu có chợ thì phải có sự mua bán, trao đổi, thế mà ở đây chỉ "mấy nhà" lác đác, gợi lên một cuộc sống nghèo nàn, tẻ nhạt.

Trong không gian tĩnh lặng ấy, âm thanh duy nhất vang lên ở hai câu luận:

"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."

Tiếng chim cuốc và chim đa đa (gia gia) kêu vọng từ xa vọng lại. Đây là tiếng lòng của thiên nhiên hay tiếng lòng của thi sĩ? Bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng nghệ thuật chơi chữ tài tình: "con cuốc cuốc" gợi âm thanh "quốc quốc" (nước nước), "cái gia gia" gợi âm thanh "gia gia" (nhà nhà). Từ tiếng chim kêu, tác giả đã mượn để giãi bày nỗi lòng thầm kín của mình. Đó là nỗi "nhớ nước" – nhớ về một thời vàng son của đất nước dưới triều đại cũ đã qua. Đó là nỗi "thương nhà" – nhớ thương gia đình, quê hương nơi phương xa. Nỗi nhớ ấy khiến lòng "đau", miệng "mỏi". Hai nỗi niềm ấy hòa quyện vào nhau, tạo nên một nỗi sầu chất chứa, mênh mang.

Từ những cảm xúc dâng trào, tác giả trở về với hiện thực cô đơn tột cùng:

"Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta."

Hành động "dừng chân đứng lại" như một sự lắng đọng, đối diện với không gian bao la "trời, non, nước". Cả một không gian rộng lớn, vô tận được thu vào tầm mắt, nó càng làm nổi bật sự nhỏ bé, lẻ loi của con người. Cụm từ "ta với ta" là đỉnh điểm của nỗi cô đơn. Không phải là "ta với ai" khác, mà chỉ có một mình ta đối diện với chính lòng mình. "Mảnh tình riêng" ấy là thế giới nội tâm sâu kín, riêng tư, không thể chia sẻ cùng ai. Nó đối lập hoàn toàn với sự rộng lớn của vũ trụ. Câu thơ kết là một tiếng thở dài, một sự chấp nhận thực tại đầy xót xa.

Tóm lại, bài thơ "Qua Đèo Ngang" là một bức tranh thiên nhiên trữ tình đặc sắc, kết hợp hài hòa giữa bút pháp tả cảnh ngụ tình. Qua đó, ta thấy được tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy và tấm lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết của một nữ sĩ tài hoa mà cũng đầy u hoài, trăn trở.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 2

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan nổi lên như một gương mặt thơ Nôm độc đáo với phong cách trang nhã, cổ điển và đượm buồn. "Qua Đèo Ngang" là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất cho hồn thơ ấy. Đặc biệt, bài thơ là một mẫu mực xuất sắc về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình – mượn cảnh vật để gửi gắm tâm trạng, khiến cho bức tranh phong cảnh và bức tranh tâm cảnh hòa quyện vào nhau khó tách rời.

Trước hết, cảnh Đèo Ngang được tái hiện qua ngòi bút tài hoa của nữ sĩ. Đó là cảnh núi non hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng thật nên thơ. Câu thơ đề "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà" vừa là sự thông báo về sự có mặt của nhân vật trữ tình, vừa là sự điểm xuyết thời gian. "Bóng xế tà" – buổi chiều tà – là khoảnh khắc giao thoa giữa ngày và đêm, thường khơi gợi những cảm xúc man mác, bâng khuâng. Đứng trước khung cảnh ấy, tác giả nhìn thấy sự sống mãnh liệt của thiên nhiên: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Cảnh vật hiện lên với sự chen chúc, sinh sôi. Nhưng ẩn sau những hình ảnh tả thực ấy là một tâm trạng. Phải chăng, "chen" cũng là sự chen chúc, bon chen của cuộc đời mà tác giả đã từng chứng kiến? Hay sự sống quật cường ấy càng làm nổi bật sự lẻ loi, đơn độc của con người giữa chốn hoang vu?

Sang đến câu thực, cảnh vật vẫn tiếp tục được miêu tả nhưng đã thoáng hiện bóng dáng con người:

"Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà."

Tác giả sử dụng thành công các từ láy "lom khom", "lác đác" và phép đảo ngữ. Hình ảnh những chú tiều "lom khom" nhặt củi, hình ảnh "mấy nhà" lác đác bên sông không chỉ tả thực cảnh sinh hoạt thưa thớt nơi xa xôi, hẻo lánh mà còn ngụ ý về sự nhỏ bé, mong manh của kiếp người trước không gian rộng lớn. "Chợ" là nơi đông vui, tấp nập, thế mà ở đây chỉ "mấy nhà", gợi lên sự vắng vẻ, đìu hiu. Sự xuất hiện của con người như một nét chấm phá, nhưng không làm cho bức tranh bớt hoang sơ, mà trái lại, càng tô đậm thêm nỗi cô quạnh của lòng người. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đã bắt đầu âm ỉ.

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến đỉnh cao trong hai câu luận, khi thi sĩ mượn tiếng chim để giãi bày tâm sự:

"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."

Đây không chỉ đơn thuần là tiếng chim kêu nữa. Nhà thơ đã lắng nghe và cảm nhận từ âm thanh khách quan đó một nỗi niềm chủ quan sâu sắc. Thủ pháp chơi chữ đồng âm khác nghĩa (cuốc cuốc = quốc quốc, gia gia = gia gia) đã biến tiếng chim thành tiếng lòng. Tiếng "quốc quốc" vọng lên từ vách núi như tiếng lòng nhớ về đất nước, về một thời đại cũ đã lùi xa (thời Lê – Trịnh). Tiếng "gia gia" khắc khoải như nỗi thương nhớ mái ấm gia đình nơi chốn kinh kỳ. Tả tiếng chim, nhưng thực chất là tả nỗi lòng của con người. Thiên nhiên như thấu hiểu, như đồng cảm và cất lên tiếng nói nội tâm thay cho con người. Cảnh và tình đã hòa làm một.

Cuối cùng, sau những bộc bạch gián tiếp qua cảnh vật, tác giả trực tiếp đối diện với chính mình:

"Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta."

Không gian được mở ra đến vô cùng: "trời, non, nước". Cả vũ trụ bao la thu gọn trong tầm mắt. Nhưng đối lập với cái vô cùng, vô tận ấy là cái hữu hạn, đơn chiếc "một mảnh tình riêng". Cụm từ "ta với ta" đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Nó khác với "ta với ta" trong "Bạn đến chơi nhà" của Nguyễn Khuyến (chỉ sự hòa hợp, tri âm). Ở đây, "ta với ta" là sự độc thoại nội tâm, là sự đối diện giữa cái tôi với cái tôi cô đơn, trống vắng. Nó khép lại bài thơ trong một không gian tĩnh lặng, u buồn.

Như vậy, bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình điêu luyện, từ việc tả thực đến gợi cảm xúc, từ mượn tiếng chim đến đối diện lòng mình, Bà Huyện Thanh Quan đã khắc họa thành công bức tranh Đèo Ngang vừa tráng lệ, vừa hoang sơ, để từ đó làm nền cho một tâm trạng u hoài, cô tịch. Bài thơ mãi là một viên ngọc quý, chứng tỏ tài năng và tâm hồn của một nữ sĩ tài hoa bậc nhất.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 3

Nhắc đến Bà Huyện Thanh Quan là nhắc đến một hồn thơ mang đậm phong vị cổ điển. Thơ bà trang nhã, đài các, giàu tính ước lệ và thấm đẫm nỗi buồn hoài cổ. "Qua Đèo Ngang" là một minh chứng rõ nét cho phong cách ấy. Tuy nhiên, ẩn sâu trong vẻ đẹp cổ điển đó, ta vẫn thấy thoáng hiện một tinh thần hiện đại trong cách thể hiện cái tôi cá nhân, một điều khá mới mẻ trong văn học trung đại.

Trước hết, vẻ đẹp cổ điển của bài thơ thể hiện rõ qua thể loại, bút pháp và hệ thống thi liệu. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ có niêm luật chặt chẽ, hài hòa về thanh, đối về ý. Bà Huyện Thanh Quan đã tuân thủ một cách nghiêm ngặt và tài tình các quy tắc ấy. Hai câu thực và hai câu luận là những cặp câu đối chỉnh: "Lom khom dưới núi" đối với "Lác đác bên sông", "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà". Ở câu luận, "Nhớ nước" đối với "Thương nhà", "đau lòng" đối với "mỏi miệng", "con cuốc cuốc" đối với "cái gia gia". Sự cân xứng ấy tạo nên một vẻ đẹp hài hòa, cổ kính.

Bút pháp tả cảnh cũng mang đậm dấu ấn cổ điển. Đó là bút pháp chấm phá, lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh. Nhà thơ không đi vào miêu tả chi tiết tỉ mỉ toàn cảnh Đèo Ngang, mà chỉ chọn lọc những nét tiêu biểu nhất: "cỏ cây", "đá", "lá", "hoa". Bức tranh thiên nhiên hiện lên với những mảng màu, những chấm phá chứ không phải một bức vẽ công phu. Hình ảnh con người xuất hiện cũng chỉ là "vài chú tiều", "mấy nhà" lác đác, đủ để gợi sự sống nhưng tuyệt nhiên không lấn át cảnh trời đất bao la. Tất cả đều theo quy phạm của thơ ca trung đại: con người chỉ là một chấm nhỏ trong vũ trụ rộng lớn.

Thi liệu trong thơ cũng rất ước lệ và quen thuộc: "đèo", "núi", "sông", "chợ", "tiều phu", cùng với các âm thanh của chim "cuốc", "đa đa". Những hình ảnh này đã trở thành mô-típ quen thuộc trong thơ cổ điển để nói về hành trình xa xôi, về nỗi buồn tha hương. Đặc biệt, âm thanh của chim cuốc (gắn với điển tích vua Thục mất nước hóa thành cuốc kêu "quốc quốc") là một điển cố quen thuộc, mang đậm không khí hoài cổ, nhớ về quá khứ.

Tuy nhiên, cái làm nên sức sống lâu bền của "Qua Đèo Ngang" chính là tinh thần hiện đại ẩn sâu trong khuôn khổ cổ điển ấy. Đó là sự xuất hiện của cái tôi cá nhân – một cái tôi mang nỗi buồn, nỗi cô đơn rất riêng, rất người. Trong văn học trung đại, cái tôi cá nhân thường bị hòa tan vào cái ta cộng đồng. Nhưng ở đây, lần đầu tiên, ta thấy một cái tôi trữ tình trực tiếp bộc lộ cảm xúc của mình một cách đầy trăn trở.

Điều này thể hiện rõ nhất qua cụm từ "ta với ta" ở cuối bài. Nếu như trong thơ cổ điển, nhà thơ thường mượn chuyện xưa, tích cũ để nói chuyện mình, thì ở đây, Bà Huyện Thanh Quan đã trực tiếp đối diện với chính mình. "Một mảnh tình riêng ta với ta" không còn là nỗi buồn vũ trụ chung chung nữa, mà là một thế giới nội tâm sâu kín, riêng tư. Đó là nơi thi sĩ chỉ có một mình, đối thoại với chính nỗi lòng mình, không có sự chia sẻ của bất kỳ ai. Cái tôi ấy ý thức rất rõ về sự hiện hữu cô đơn của mình giữa vũ trụ bao la. Đây là một yếu tố rất gần với tinh thần của thơ ca lãng mạn sau này.

Hơn nữa, nỗi "nhớ nước" của bà cũng có điểm khác biệt. Đó không chỉ là tình yêu nước chung chung, mà còn là nỗi nhớ tiếc một thời đại, một chế độ đã qua (thời Lê – Trịnh). Tấm lòng của bà gắn liền với sự suy vong của một vương triều. Nỗi niềm hoài cổ đó rất riêng tư, mang dấu ấn cá nhân của một người từng sống trong thời kỳ vàng son ấy.

Tóm lại, "Qua Đèo Ngang" là một sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại. Hình thức chỉnh chu, niêm luật chặt chẽ, bút pháp ước lệ, tượng trưng của thơ trung đại được sử dụng nhuần nhuyễn để chuyên chở một nội dung mới mẻ: sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân với những nỗi niềm sâu kín, riêng tư. Chính sự kết hợp này đã tạo nên giá trị trường tồn của bài thơ trong lòng độc giả bao thế hệ.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 4

Không chỉ đơn thuần là một bài thơ tả cảnh hay bộc lộ tâm trạng nhớ nhà, "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan còn mang một tầng ý nghĩa sâu xa hơn: đó là nỗi buồn thân phận của con người trước sự đổi thay của thời thế, một nỗi niềm hoài cổ về quá khứ và sự bất lực trước hiện tại. Để hiểu được điều này, ta cần đặt bài thơ trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời.

Bà Huyện Thanh Quan sống vào đầu thế kỷ XIX, thời kỳ nhà Nguyễn đã lên ngôi, thay thế cho triều Lê – Trịnh suy tàn. Bà vốn là người từng sống dưới thời Lê, chứng kiến cảnh đất nước loạn lạc, triều đại thay đổi. Sau này, bà được vua Minh Mạng mời vào kinh đô Huế làm "Cung trung giáo tập". Có thể hình dung, hành trình "vào Huế" của bà cũng là một hành trình xa xứ, xa quê hương Thăng Long – Hà Nội, nơi gắn bó với cả một thời tuổi trẻ và những giá trị văn hóa cũ. Bối cảnh lịch sử ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm trạng của bà khi đứng trước Đèo Ngang.

Trước hết, bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang hiện lên với vẻ hoang sơ, heo hút. Câu thơ "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" không chỉ là tả cảnh. Hình ảnh cỏ cây chen nhau trên đá gợi một sự sinh tồn đầy khó nhọc. Nó cũng như thân phận con người trong thời loạn, phải chen chúc, vất vả để tồn tại. "Đá" là biểu tượng của sự khô cằn, khắc nghiệt, cũng như hoàn cảnh xã hội khắc nghiệt lúc bấy giờ. Sự sống vẫn cứ vươn lên, nhưng nó mang một vẻ đẹp đầy cam go, thử thách.

Sự xuất hiện của con người trong bức tranh thật nhỏ bé và thưa thớt:

"Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà."

Cảnh chợ chiều "lác đác" với "mấy nhà" không chỉ là tả thực mà còn gợi lên sự tàn tạ, đổ vỡ của một cuộc sống sung túc nào đó trong quá khứ. Chợ vốn là nơi giao thương, tụ họp, vậy mà giờ đây chỉ còn lèo tèo vài ba túp lều. Phải chăng, đó cũng là một hình ảnh ẩn dụ cho sự đổ nát của kinh thành Thăng Long xưa, nơi từng phồn hoa đô hội, sau biến cố lịch sử đã trở nên hoang tàn? Dáng vẻ "lom khom" của người tiều phu không chỉ gợi sự cần mẫn mà còn gợi sự nhẫn nhục, cam chịu của con người trước cuộc mưu sinh vất vả.

Đỉnh cao của nỗi niềm hoài cổ và thân phận được bộc lộ qua tiếng chim kêu:

"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."

Âm thanh "con cuốc cuốc" là tiếng "quốc quốc" (nước nước). Nó gợi nhớ đến điển tích vua Thục mất nước, hóa thành chim cuốc kêu khắc khoải mãi. Bà Huyện Thanh Quan mượn tiếng chim ấy để nói lên nỗi nhớ nước của mình. Nhưng đó là nỗi nhớ "nước" nào? Đó là nỗi nhớ về một đất nước dưới triều đại cũ, nơi mà bà và gia đình từng gắn bó. Nhà Nguyễn lên ngôi, triều đại mới thay thế triều đại cũ, khiến cho những người từng trải như bà không khỏi có những phút giây bâng khuâng, tiếc nuối. Nỗi "thương nhà" cũng vậy. "Nhà" không chỉ là mái ấm gia đình nơi quê cũ, mà còn có thể hiểu là "triều đại nhà Lê", là "dòng dõi, tổ tiên" mà bà đã phải rời xa. Cả hai nỗi niềm ấy hòa quyện, khiến lòng "đau", miệng "mỏi". Nỗi đau ấy là nỗi đau của một con người bơ vơ giữa dòng đời đổi thay, không biết đâu là bến đỗ.

Cuối cùng, tác giả đối diện với không gian vũ trụ bao la:

"Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta."

Không gian "trời, non, nước" bao la, vĩnh hằng, càng làm nổi bật sự nhỏ bé, hữu hạn của kiếp người. "Một mảnh tình riêng" ấy chính là thế giới nội tâm với biết bao hoài niệm, bao nỗi niềm mà không ai có thể sẻ chia. Nó vừa là nỗi nhớ nhà, nhớ quê, vừa là nỗi nhớ tiếc một thời vàng son đã qua. "Ta với ta" là sự độc thoại, tự vấn, là sự trở về với chính lòng mình giữa thời thế đổi thay, không người đồng cảm. Nỗi cô đơn ở đây đã đạt đến độ sâu thẳm nhất.

Như vậy, "Qua Đèo Ngang" không chỉ là khúc tâm tình về một chuyến đi xa, mà còn là khúc ca đầy xúc động về thân phận con người trong bước chuyển giao của lịch sử. Bài thơ là tiếng nói của một tâm hồn nhạy cảm, yêu nước thương nhà, nhưng bất lực trước thời cuộc, phải ôm trọn "một mảnh tình riêng" vào lòng.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 5

Bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan từ lâu đã được biết đến như một bức tranh thiên nhiên trữ tình và một tâm trạng u hoài. Tuy nhiên, ẩn sâu trong những dòng thơ trang nhã ấy là một giá trị nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Giá trị ấy không chỉ thể hiện ở tình yêu thiên nhiên, đất nước mà còn là sự cảm thông sâu sắc với những kiếp người nhỏ bé và sự trân trọng những rung động tinh tế của tâm hồn con người.

Trước hết, giá trị nhân văn của bài thơ thể hiện ở tình yêu thiên nhiên tha thiết, một vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam. Dừng chân trước Đèo Ngang trong buổi chiều tà, tác giả đã không khỏi xao xuyến trước vẻ đẹp của tạo vật. Cảnh núi non hùng vĩ với "cỏ cây chen đá, lá chen hoa" hiện lên sống động qua con mắt quan sát tinh tế. Bà nhìn thấy sức sống mãnh liệt của thiên nhiên ngay cả trên mảnh đất khô cằn. Sự xuất hiện của những "chú tiều" và "chợ mấy nhà" càng tô điểm thêm cho bức tranh phong cảnh một nét dân dã, bình dị. Tình yêu ấy khiến bà thêm gắn bó với quê hương, xứ sở, dù đang ở nơi đất khách quê người.

Giá trị nhân đạo cốt lõi của bài thơ là tình yêu thương, sự đồng cảm với con người, đặc biệt là với những con người lao động nghèo khổ, nhỏ bé. Hình ảnh "tiều vài chú" với dáng "lom khom" dưới núi gợi lên một cuộc sống mưu sinh vất vả, lam lũ. Hình ảnh "chợ mấy nhà" lác đác bên sông cho thấy sự thưa thớt, nghèo nàn của cuộc sống nơi xa xôi, hẻo lánh. Tuy chỉ là những nét chấm phá thoáng qua trong bức tranh phong cảnh, nhưng nó cho thấy tấm lòng của nhà thơ luôn hướng về những kiếp người nhỏ bé, cơ cực. Bà không chỉ nhìn thấy cảnh mà còn nhìn thấy cảnh đời. Đó là biểu hiện của một trái tim nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn.

Giá trị nhân văn còn được thể hiện đậm nét qua tình cảm gia đình và tình yêu quê hương tha thiết. Đó là nỗi "thương nhà" da diết. Trong không gian hoang vắng của Đèo Ngang, nỗi nhớ mái ấm gia đình nơi quê nhà lại càng trào dâng mãnh liệt. "Mỏi miệng cái gia gia" không chỉ là tiếng kêu của chim mà còn là tiếng lòng thổn thức của một người mẹ, người vợ đang xa gia đình. Nỗi nhớ ấy là một tình cảm hết sức tự nhiên, thiêng liêng và cao quý. Nó cho thấy nhà thơ là một người phụ nữ giàu lòng yêu thương, gắn bó máu thịt với gia đình.

Cao hơn nữa, giá trị nhân đạo của bài thơ là tình yêu nước thầm kín nhưng sâu sắc. Nỗi "nhớ nước" được gửi gắm qua điển tích chim cuốc kêu "quốc quốc". Đó là nỗi nhớ về một thời kỳ lịch sử đã qua, nhớ về cội nguồn dân tộc. Tình yêu nước của Bà Huyện Thanh Quan không phải là thứ tình cảm sục sôi, hùng tráng, mà là một nỗi niềm hoài cổ, sâu lắng và đầy xót xa. Nó gắn liền với sự thăng trầm của đất nước, với số phận của một triều đại. Tình yêu ấy khiến bà không khỏi "đau lòng" khi đối diện với thực tại.

Cuối cùng, giá trị nhân văn sâu sắc nhất của bài thơ là sự thức tỉnh ý thức về cái tôi cá nhân. Giữa không gian bao la "trời, non, nước", con người nhận ra sự nhỏ bé, cô đơn của mình. Và chính trong khoảnh khắc ấy, họ đối diện với chính mình, với thế giới nội tâm phong phú của riêng mình – "một mảnh tình riêng". Cụm từ "ta với ta" là đỉnh cao của sự tự ý thức. Nó khẳng định giá trị của đời sống tinh thần cá nhân, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Con người có quyền được buồn, được nhớ, được sống với những rung động riêng tư nhất của mình. Đó là một tuyên ngôn nhân văn đầy ý nghĩa, đề cao con người cá nhân trong xã hội phong kiến vốn coi trọng cộng đồng.

Tóm lại, ẩn sau những vần thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, "Qua Đèo Ngang" chứa đựng một giá trị nhân đạo và nhân văn lớn lao. Đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, tình yêu quê hương đất nước, và trên hết là sự trân trọng những giá trị tinh thần, những rung động sâu kín của con người. Bài thơ mãi là một bài ca đẹp về tình người, về tâm hồn Việt Nam.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 6

"Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan là một viên ngọc quý trong kho tàng thơ Nôm Đường luật Việt Nam. Sức sống lâu bền của bài thơ không chỉ đến từ nội dung tình cảm sâu lắng mà còn từ những giá trị nghệ thuật đặc sắc, điêu luyện. Bằng tài năng bậc thầy, nữ sĩ đã tạo nên một tác phẩm hoàn mỹ về cả hình thức lẫn nội dung.

Trước hết, bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ với những quy định nghiêm ngặt về số câu, số chữ, niêm, luật, vần và đối. Bà Huyện Thanh Quan đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc và tuân thủ một cách nhuần nhuyễn các quy tắc ấy. Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (vần "a": tà, hoa, nhà, gia, ta). Sự hài hòa về âm thanh này tạo nên một nhạc điệu du dương, trầm buồn, phù hợp với tâm trạng của chủ thể trữ tình.

Điểm đặc sắc nổi bật nhất trong nghệ thuật của bài thơ là phép đảo ngữ và việc sử dụng từ láy. Ở hai câu thực và hai câu luận, phép đảo ngữ được sử dụng triệt để:

"Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."

Các từ láy "lom khom", "lác đác" và các cụm từ chỉ trạng thái "đau lòng", "mỏi miệng" được đưa lên đầu câu. Chính cách đảo ngữ này đã nhấn mạnh dáng vẻ nhỏ bé, chịu thương chịu khó của con người ("lom khom") và sự thưa thớt, vắng vẻ của cảnh vật ("lác đác"). Ở hai câu luận, việc đảo "nhớ nước", "thương nhà" lên đầu đã làm nổi bật nỗi niềm tâm trạng, khiến cho nỗi nhớ như trào dâng, như chiếm trọn không gian. Nhờ phép đảo ngữ, câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi tình, tạo ấn tượng mạnh với người đọc.

Một nghệ thuật đặc sắc không thể không nhắc tới là nghệ thuật chơi chữ trong hai câu luận. Tác giả đã mượn tên của hai loài chim (chim cuốc và chim đa đa) nhưng tài tình khai thác lớp nghĩa thứ hai từ âm thanh tiếng kêu của chúng. "Con cuốc cuốc" gợi âm "quốc quốc" (nước nước), "cái gia gia" gợi âm "gia gia" (nhà nhà). Cách chơi chữ đồng âm khác nghĩa này vừa tự nhiên, vừa tinh tế, vừa hàm súc. Nó không chỉ miêu tả tiếng chim kêu nơi Đèo Ngang mà còn mở ra một thế giới nội tâm sâu kín với nỗi nhớ nước, thương nhà da diết. Tiếng chim và tiếng lòng đã hòa làm một, tạo nên sự cộng hưởng mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, Bà Huyện Thanh Quan còn sử dụng thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình. Toàn bộ bài thơ là bức tranh phong cảnh Đèo Ngang, nhưng mỗi chi tiết của cảnh đều thấm đẫm tâm trạng của con người. Cảnh hoang sơ, heo hút càng làm nổi bật nỗi cô đơn của lữ khách. Sự xuất hiện thưa thớt của con người càng tô đậm nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Âm thanh của tiếng chim khắc khoải chính là tiếng lòng đau đáu của thi nhân. Đến cuối cùng, không gian "trời, non, nước" bao la là cái nền để cho "một mảnh tình riêng" cô đơn, lẻ loi hiện lên rõ nét nhất. Tả ít mà gợi nhiều, đó là đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca.

Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cũng rất đáng chú ý. Ngôn ngữ trong bài thơ vừa trang nhã, hàm súc (phù hợp với phong cách của Bà Huyện Thanh Quan) lại vừa giản dị, gần gũi. Các từ ngữ như "bóng xế tà", "cỏ cây", "hoa lá", "trời non nước" mang vẻ đẹp cổ điển. Các từ như "tiều", "chợ", "nhà" lại rất đỗi thân thuộc trong đời sống. Sự kết hợp này tạo nên một bức tranh vừa nên thơ vừa chân thực.

Cuối cùng, cấu trúc bài thơ rất chặt chẽ, đi từ tả cảnh khái quát (câu đề), đến tả cảnh cụ thể (câu thực), đến bộc lộ cảm xúc qua âm thanh (câu luận), và cuối cùng là khái quát tâm trạng (câu kết). Sự vận động của mạch thơ từ xa đến gần, từ ngoại cảnh đến nội tâm, từ ẩn ý đến trực tiếp, đã dẫn dắt người đọc đi sâu vào thế giới tâm hồn đầy u hoài của nữ sĩ.

Tóm lại, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ Đường luật, phép đảo ngữ, từ láy, chơi chữ, bút pháp tả cảnh ngụ tình và ngôn ngữ tinh tế, "Qua Đèo Ngang" xứng đáng là một kiệt tác văn chương. Những đặc sắc nghệ thuật ấy đã góp phần quan trọng làm nên sức hấp dẫn và giá trị trường tồn của bài thơ.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 7

“Có nơi đâu đẹp tuyệt vời

Như sông như núi, như người Việt Nam”

Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hòa sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một trong số đó.

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

Câu thơ mở đầu gợi mở về không gian, thời gian. Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm chiều tà đã bao trùm lên không gian đèo Ngang. Tiếp đến nhà thơ sử dụng điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:

“Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau”

Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ “Qua đèo Ngang”, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật.

Không chỉ là thiên nhiên, mà con người cũng xuất hiện trong bức tranh nơi đèo Ngang:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”

Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn.

Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ “vài, mấy” như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

Từ ghép “đau lòng, mỏi miệng” khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia giá phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?

Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:

“Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.”

Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 8

Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan là “Qua Đèo Ngang”. Với bài thơ này, tác giả đã gửi gắm tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

"Qua đèo ngang" gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ "Qua đèo ngang" được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú Xuân(Huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. Với tám câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.

“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc "bóng xế tà". Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có "cây cỏ chen lá, đá chen hoa" hiu quạnh. Điệp từ "chen" khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” cho thấy sự thưa thớt, vắng vẻ của con người. Trong bức tranh thiên nhiên này, con người chỉ là một điều nhỏ bé.

Tiếp đến, Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo Ngang:

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?

Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh - hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng.

“Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta”

Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày "ta với ta" nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng.

Bài thơ "Qua Đèo Ngang" vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 9

Xã hội phong kiến luôn có sự chèn ép, ràng buộc tự do của những người phụ nữ bất hạnh, chỉ sống phụ thuộc, không làm chủ cho bản thân mình. Xã hội hiện đại bây giờ, phụ nữ luôn được tôn trọng, bình đẳng, không phân biệt đối xử như ngày xưa nữa.

Tình cảm yêu mến, muốn được bảo vệ hạnh phúc tự do cho mình, cũng không hề kém cạnh các đại nam nhi. Đối với bà Huyện Thanh Quan tuy không đi ra chiến trường chiến đấu, nhưng bà đã gửi gắm tinh thần, sự cổ động mạnh mẽ vào thơ, để tiếp thêm một phần sức mạnh, công lao của mình cho đất nước.

Qua đèo ngang gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ Qua đèo ngang được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú Xuân(Huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. Với 8 câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc bóng xế tà. Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có cây cỏ chen lá, đá chen hoa hiu quạnh. Điệp từ chen khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. người tiều phu đi lượm củi vẫn tạo cảm giác vô định, lom khom từ ngữ nhấn mạnh thể hiện sự vất vả của người tiều phu, phải đi kiếm từng khúc củi, ước tính số lượng cụ thể, sự sống hiếm hoi, xa vời, tìm một người bạn trở nên khó khăn hơn. Tiếp đến hai câu thơ luận phần nào cảm xúc của tác giả như được thể hiện rõ nét hơn:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?

Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh - hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng.

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày ta với ta nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng.

Bài thơ Qua Đèo Ngang vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Qua đèo ngang - mẫu 10

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được sáng tác khi bà đi ngang con đèo này để vào kinh thành Huế nhận chức làm quan. Bài thơ nói lên nỗi nhớ quê hương gia đình của người con gái đi xa, nỗi thương thân của phụ nữ nơi đất khách quê người. Lối thơ nhẹ nhàng điềm tĩnh của tác giả được thể hiện rõ qua bài thơ này.

“Trèo đèo hai mái chân vân

Lòng về Hà Tĩnh, dạ ân Quảng Bình“

Nằm giữa hai đầu nỗi nhớ, gánh trọn ân tình của nữ sĩ về bức tranh thiên nhiên hoang sơ đậm chất tình. Bà Huyện Thanh Quan dùng lối viết tự nhiên mà sâu lắng, hoài cảm đi vào lòng người. Trên con đường vào Phú Xuân, nữ sĩ bắt gặp phong cảnh đèo Ngang, từ đó khơi gợi nỗi buồn của người con gái đường xa chất chứa bao nỗi nhớ thương:

“Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

Bức tranh vẽ ra vào buổi chiều tà, vào thời gian vắng vẻ và hoang vu trong ngày. Nếu được thay bằng “nắng tà” thì khung cảnh sẽ sinh động hơn. Một buổi chiều có nắng vàng, hoa lá và đá, vậy tại sao nữ sĩ lại không chọn nắng? Thời điểm chiều tà làm cho lòng người nôn nấu một nỗi hoài cổ, chất xúc tác làm tâm trạng con người cất thành tiếng.

Bức tranh thiên nhiên hoang sơ đượm màu buồn, liệu tâm hồn nữ sĩ có đủ mạnh mẽ vượt qua? Điệp từ “chen” nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô liêu. Sự sống sắp lụi tàn, hoa lá cỏ cây đang cuống quýt, nồng say bám chặt lấy sự sinh tồn trên mảnh đất cằn cỗi.

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Bức tranh lúc này đã có sự xuất hiện của con người nhưng nó có thể làm mờ nhạt bớt phần nào trong sự trống vắng của tâm hồn người thứ lữ? ” Tiều vài chú” chỉ có một vài chú tiều đi gom củi phía dưới chân núi. Từ đó, làm tăng cường độ mỏng manh của sự sống. Nó hư vô, mờ ảo như thể sẽ biến mất. Tác giả đã dùng nghệ thuật phép đảo để thay đổi trật tự cú pháp ở hai câu này làm toát lên cảnh hắt hiu, hoang sơ của con đèo này.

Từ láy ”lom khom” chỉ hoạt động gồng gánh gian nan và “lác đác” nói lên mức độ số lượng được ước tính cụ thể. Những hình ảnh ước lệ ấy đã bộc lộ ra hết cảm xúc, muốn lắm, cần lắm được chạm đến sự sống và khao khát được nhìn thấy con người. Ôi chỉ là ảo ảnh! Nơi này, nữ sĩ biết tìm đâu người bạn đường để trò chuyện chia sẻ bao nỗi niềm.

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Hai câu luận tiếp theo làm trỗi dậy nỗi niềm tiềm ẩn của người thứ lữ. ”Con quốc quốc” “Cái gia gia” âm hưởng nhẹ nhàng mà thấm đẫm đến tâm can con người. Người khách phương xa cô đơn nghe văng vẳng tiếng chim cuốc mà lòng tê tái, não nề.

Ở đây, tác giả dùng thủ pháp dùng động để tả tĩnh thật tinh tế, thứ âm thanh coi cuốc nơi xa kia làm bệ phóng cho tác giả gửi trọn nỗi niềm về đất nước và gia đình trên cuộc hành trình của mình. Thương nước nhà đang chìm trong tình cảnh loạn lạc, xót xa thân phận gái xa nhà độc hành. Nỗi lòng thương xót ấy như được trùng trùng điệp điệp không ngơi nghỉ.

“Dừng chân nghỉ lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.”

Hai câu kết đưa xúc cảm của nữ sĩ lên đến đỉnh điểm của cảm xúc cao trào. ”Dừng chân” phần nào làm cho mạch cảm hứng của người đọc ngắt đoạn. Nhờ đó, mới diễn tả hết tâm trạng của nữ sĩ giữa núi rừng heo hút. Cái mênh mông, vô tận của núi rừng níu chân người thứ lữ. Ai đã từng một mình trước biển mà không choáng ngợp ?Ai đã yêu một người mà chưa từng nhớ nhung?

Thật vậy, giữa thế giới bao la, vô tận ấy làm đôi chân nhỏ bé không thể bước nổi. Sự đơn độc ấy làm người thứ lữ yếu đuối. Người con gái ấy lại một lần nữa khao khát được hòa mình vào thiên nhiên núi rừng, được che lấp sự yếu đuối, đơn độc nơi mình. Núi rừng bao la, rộng lớn bao nhiêu thì sự cô đơn, trống vắng của nữ sĩ lại càng tăng bấy nhiêu.

Từ đó, ta đủ cảm nhận “mảnh tình riêng” đơn độc đến tiếc nuối. Thể thơ thất ngôn bát cú với cấu trúc đề thực luận kết, cách hiệp vần và phép đối trong bài thơ tóm gọn bao cảm xúc trong lòng người đọc. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” mang đến một phong cách mới mẻ về bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mang đậm chất trữ tình của nữ sĩ. Những vần thơ ấy sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc, có một người yêu thiên nhiên, yêu đất nước đến vậy.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học