5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm (điểm cao)
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thu ẩm (Nguyễn Khuyến) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm
a. Mở bài:
- Nguyễn Khuyến là tác giả xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam.
- Thu ẩm nằm trong chùm thơ về mùa thu của Nguyễn Khuyến và là một trong số những bài thơ thu nổi tiếng nhất của Nguyễn Khuyến
- Bài thơ là dòng cảm xúc của con người yêu đời, yêu quê hương, đất nước. Trong hình ảnh thu đó là hình ảnh đồng quê Bắc Bộ với dáng thu, hồn thu lung linh.
(Dẫn cả bài thơ)
b. Thân bài:
- Hai câu đề:
+ Năm gian nhà có thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
+ Không giống như những tác giả khác chọn không gian sáng làm tôn lên bức tranh thu. Nguyễn Khuyến chọn mùa thu trong không gian đặc biệt là buối đêm "ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe". Cảnh thu thì không phải là những gì tươi đẹp, sang trọng, rực rỡ. Đó là cảnh nghèo khó "ba gian nhỏ cỏ".
+ Gian nhà cỏ là biểu trưng của cái nghèo, cái cực. Nhưng vào thơ Nguyễn Khuyến, cái nghèo dường như bị xóa nhòa. Từ láy "le te" gợi hình dung về mức độ thấp của cảnh vật. Bóng tối dường như bao trùm và khiến cảnh vật bị xóa nhòa.
- Hai câu thực:
“Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.”
+ Hình ảnh thơ rất độc đáo: Sương thu như màu khói phủ quanh bờ rào. Cách chọn hình ảnh rất bình dị, rất mộc mạc. Chi tiết bóng trăng xuất hiện đã cho người đọc hình dung về hình ảnh mặt trăng in trên bóng nước tạo ra những gợn sóng lăn tăn khiến người nhìn có hình dung về bóng trăng loe. Âm "I" đứng đầy các từ gần nhau góp phân làm rõ hơn vê bức tranh
- Hai câu luận:
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.”
+ Trong câu thơ này, tác giả miêu tả hình ảnh bầu trời. Bầu trời có màu xanh và xanh ở mức tuyệt đối "xanh ngắt". Nghệ thuật nhân hóa "da trời" đã làm người đọc liên tưởng về hình ảnh thu tươi đẹp và giống như một người thiếu nữ xinh đẹp.
+ Đại từ phiếm chỉ "ai" đã làm người đọc hình dung về sự huyền bí, mờ ảo trong tác phẩm.
+ Đối tượng miêu tả thứ hai của tác giả là miêu tả chính bản thân mình. Đôi mắt đỏ hoe ở đây là đôi mắt chứa đầy những tâm trạng. Bởi lẽ, đôi mắt đỏ hoe chứa nhiều
- Hai câu kết:
“Rượu tiêng răng hay hay chăng mây
Chỉ dăm ba chén đã say nhè.”
+ Cụm từ "tiếng rằng hay hay chăng thấy" tức là thường xuyên uống rượu hoặc được hiểu là tửu lượng cao. Và dù "chỉ dăm ba chén" nhưng ta thấy được câu chuyện ở đây không phải là uống rượu. Mà đó chỉ là một vài chén. Uống rượu không nhăm say mà uống rượu đế quên đi nôi buôn thời thê.
- Đánh giá về nội dung và Nghệ thuật:
+ Thể thất ngôn bát cú Đường luật
+ Sáng tạo trong gieo vân và sử dụng từ ngữ
c. Kết bài: Tâm trạng u hoài của Nguyễn Khuyến thấm đượm vào cảnh vật. Nhà thơ đã làm rõ đươc tình thu và cảnh thu buồn bã.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm - mẫu 1
Nguyễn Khuyến, bậc Tam Nguyên Yên Đổ, là linh hồn của làng cảnh Việt Nam. Trong chùm ba bài thơ thu nức tiếng của ông, nếu "Thu vịnh" mang cái cốt cách thanh cao của bầu trời, "Thu điếu" thu tóm cái tĩnh lặng của mặt ao, thì "Thu ẩm" lại là một bức tranh thu đầy ám ảnh, nơi cảnh vật và tâm trạng người uống rượu hòa quyện vào nhau trong một không gian u uẩn, chập chờn. Bài thơ không chỉ tả cảnh uống rượu mà còn là tiếng lòng đầy trăn trở của một bậc nho sĩ yêu nước trước vận nước nổi trôi.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đưa ta vào một không gian hẹp, thân thuộc nhưng cũng đầy sự tĩnh lặng:
"Năm gian nhà cỏ thấp leo teo,"
"Ngõ tối đêm sâu đốm lửa thâu."
Hình ảnh "nhà cỏ" và trạng thái "thấp leo teo" gợi lên sự giản dị, khiêm nhường của một bậc trí giả đã từ quan về vườn. Không gian ấy không mở ra sự rộng lớn mà dường như đang thu nhỏ lại, co cụm dưới bóng tối. Cái khéo của nhà thơ nằm ở từ "leo teo" – một từ láy giàu sức gợi về sự nhỏ bé, cô liêu. Tiếp đó, bóng tối của "ngõ tối đêm sâu" không hề đen đặc mà bị xé toạc bởi "đốm lửa thâu". Đốm lửa ấy có thể là đốm đom đóm, cũng có thể là ánh đèn dầu hiu hắt của người thức đêm. Sự tương phản giữa cái bóng tối bao trùm và ánh sáng nhỏ nhoi tạo nên một không khí trầm mặc, suy tư.
Dần dần, tầm mắt của thi nhân mở rộng lên cao và ra xa để đón nhận những tín hiệu của mùa thu:
"Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,"
"Làn ao lóng lánh bóng trăng loe."
Bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Khuyến ở đây đạt đến độ tinh xảo. "Phất phơ" gợi sự chuyển động nhẹ nhàng, hư ảo của làn khói hay sương sớm đầu thu. Sự kết hợp giữa "khói nhạt" và "trăng loe" tạo nên một thế giới nửa thực nửa hư. Từ "loe" là một nhãn tự cực kỳ đắt giá; nó không phải là ánh sáng rực rỡ mà là sự loang lòa của ánh trăng trên mặt nước ao, tạo nên một hiệu ứng thị giác vừa sống động vừa hoang hoải. Cảnh vật dường như đang say cùng người, hay chính cái nhìn của người say đã làm cho cảnh vật trở nên lóng lánh, nhòe mờ đến vậy?
Điểm nhấn của bức tranh thu nằm ở sắc thái bầu trời:
"Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?"
Màu "xanh ngắt" là màu đặc trưng trong thơ thu Nguyễn Khuyến. Nó không phải xanh nhạt, xanh lơ mà là màu xanh sâu thẳm, thăm thẳm đến mức nhức nhối. Câu hỏi tu từ "ai nhuộm" chứa đựng sự ngỡ ngàng, thán phục trước vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, đồng thời cũng ẩn chứa một nỗi buồn không tên khi đối diện với cái vô cùng của vũ trụ.
Hai câu thực và luận của bài thơ đối nhau rất chỉnh, vẽ nên một không gian vừa tĩnh vừa động. Nhưng tất cả những vẻ đẹp ấy dường như chỉ là cái cớ để dẫn dắt đến hai câu kết – nơi "nhân vật trữ tình" trực tiếp xuất hiện:
"Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy,"
"Độ năm ba chén đã say nhè."
Người ta uống rượu để say, để quên, nhưng với Nguyễn Khuyến, ông uống "chẳng mấy" mà đã "say nhè". Đây là cái say của một người không còn tửu lượng, hay là cái say của một tâm hồn quá nhạy cảm trước nỗi đau đời? Câu kết bỗng nhiên chuyển sang một hình ảnh đầy ám ảnh:
"Vắt tay nằm nghĩ, gợi lòng quê,"
"Mắt đỏ hoe hoe, rượu muốn nhè."
Hình ảnh "vắt tay nằm nghĩ" là tư thế của người trăn trở, ưu tư chứ không phải của kẻ say sưa hưởng lạc. "Mắt đỏ hoe hoe" có thể do tác dụng của men rượu, nhưng sâu xa hơn, đó là đôi mắt của người đang khóc thầm, của người đau đáu về "lòng quê" – lòng yêu quê hương, đất nước trong cảnh lầm than. Ông say rượu hay đang say trong nỗi đau của một "trí sĩ" bất lực trước thời cuộc?
Về mặt nghệ thuật, "Thu ẩm" sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn như hơi thở. Hệ thống vần "eo" (teo, vèo, teo...) và vần "oe" (loe, nhè, hoe) tạo nên âm hưởng co thắt, gợi sự tù túng, bế tắc của không gian và tâm trạng. Ngôn ngữ thơ giản dị, thuần Việt nhưng vô cùng tinh tế, biến những cảnh vật bình thường của làng quê Bắc Bộ thành những hình tượng nghệ thuật bất hủ.
Tóm lại, "Thu ẩm" không đơn thuần là một bài thơ tả cảnh uống rượu vui thú điền viên. Nó là một bức tranh thu đẹp nhưng buồn, một tiếng thở dài đầy nhân văn của Nguyễn Khuyến. Qua đó, ta thấy được một tâm hồn gắn bó thiết tha với thiên nhiên, một nhân cách thanh cao và một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng vô cùng mãnh liệt. Bài thơ mãi là một viên ngọc sáng trong dòng văn học cổ điển Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về tình yêu quê hương và sự nhạy cảm của người nghệ sĩ trước thời cuộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm - mẫu 2
"Thu ẩm" là một trong ba bài thơ thu nổi tiếng nhất của Nguyễn Khuyến (cùng với "Thu điếu" và "Thu vịnh"), được viết trong thời kỳ ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa thu đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn là tiếng lòng của một nhà nho bất lực trước thời cuộc, mượn rượu để giải sầu nhưng rồi lại càng thêm cô đơn, u uất.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã khéo léo giới thiệu không gian và thời gian qua một hình ảnh rất thực, rất đỗi quen thuộc:
"Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe"
Hai câu đề hiện lên với cảnh sắc làng quê Bắc Bộ xưa. "Nhà cỏ thấp le te" gợi lên sự đơn sơ, giản dị, hài hòa với cảnh vật. Không phải là một ngôi nhà cao rộng, mà chỉ là túp lều tranh thấp, như nép mình trước không gian bao la. Điểm nhấn của bức tranh là "ngõ tối đêm sâu" và "đóm lập lòe". Đó là thứ ánh sáng le lói, yếu ớt, lúc ẩn lúc hiện trong bóng tối mênh mông, vừa gợi sự sống, vừa gợi sự hiu quạnh. Hình ảnh con đom đóm như một nét chấm phá độc đáo, báo hiệu một mùa thu đã đến thực sự, mang theo cái se lạnh và không gian tĩnh mịch của làng quê. Cảnh vật vừa thực, vừa đượm một nỗi buồn man mác.
Đến hai câu thực, thi sĩ mở rộng tầm nhìn ra xa hơn để đón nhận những nét đặc trưng nhất của mùa thu:
"Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe"
Vẫn là những hình ảnh quen thuộc: giậu tre, làn ao, khói, trăng. "Màu khói nhạt" trên lưng giậu có thể là khói lam chiều từ những mái bếp, hay đơn giản hơn, đó chính là hơi sương mỏng manh, nhẹ nhàng vương trên hàng rào. Chữ "phất phơ" diễn tả trạng thái lay động nhẹ nhàng, mơ hồ, rất hợp với làn khói mỏng. Dưới mặt ao, "bóng trăng loe" – ánh trăng không tròn đầy, viên mãn mà bị "loe" ra, tan loãng trên mặt nước. Đây là một cách nhìn và cảm nhận rất tinh tế. Trăng phải rất sáng và nước phải rất trong thì mới có cái "loe" ấy. Cảnh vật vì thế vừa huyền ảo, vừa có phần hoang sơ, lạnh lẽo. Những từ láy "phất phơ", "lóng lánh" đã góp phần tô đậm thêm vẻ đẹp đầy chất họa, chất thơ cho bức tranh thu.
Trước cảnh trời đất vào thu, lòng người cũng trĩu nặng những tâm tư. Hai câu luận là khúc xạ trực tiếp của tâm hồn thi sĩ:
"Da trắng khỏi vòng chị ả chị
Rượu hồng uống để đỏ môi ông"
Câu thơ vừa mang tính chất tự trào, vừa thấm đượm nỗi chua xót. Các "chị ả" trong xóm có làn da trắng, thoát ra khỏi lũy tre xanh để đi lấy chồng? Hay đó là hình ảnh ẩn dụ cho những con người trẻ tuổi, những người tài năng đang lần lượt ra làm quan, phục vụ cho chính quyền thực dân? Nhà thơ tự đặt mình ra ngoài dòng đời tấp nập ấy. Ông ở lại với làng quê, với nỗi cô đơn của mình. Câu thơ sau thể hiện rõ tâm thế ấy: uống rượu cho thỏa thích, "cho đỏ môi ông". Rượu hồng như một phương tiện để quên đi thực tại, để sưởi ấm lòng mình trong cái lạnh của mùa thu và của thế thái nhân tình. Đó không phải là một cuộc nhậu nhẹt say sưa thông thường, mà là hành động của một kẻ sĩ dùng rượu làm bạn, để đối diện với chính mình.
Khép lại bài thơ là một tứ thơ bất ngờ và đầy ám ảnh:
"Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè"
Nguyễn Khuyến tự nhận mình uống rượu kém. Nhưng "say nhè" chỉ sau năm ba chén lại là một cách nói có dụng ý sâu xa. Có thể vì ông già rồi, tửu lượng giảm sút. Nhưng cũng có thể, cái "say" ở đây là say vì cảnh, vì tình. Ông không cần uống nhiều mới say, chỉ cần vài chén rượu, trước cảnh thu, lòng ông đã ngây ngất, đã chìm vào một cõi mông lung, buồn bã. Cái say của Nguyễn Khuyến là cái say của người tỉnh táo hơn ai hết, tỉnh táo trước thời cuộc, trước lẽ đời nên mới dễ dàng "say" trong men rượu giải sầu.
Tóm lại, "Thu ẩm" là một kiệt tác thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Khuyến. Bài thơ thành công trong việc kết hợp hài hòa giữa bút pháp tả cảnh tài tình với khả năng bộc lộ những rung động tinh tế của tâm hồn. Bức tranh thu đẹp nhưng buồn, lặng lẽ và hoang sơ. Đằng sau cảnh sắc ấy là cả một tấm lòng yêu nước thầm kín, một tâm sự đau đáu của nhà thơ trước thời cuộc rối ren. Bài thơ xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm - mẫu 3
"Thu ẩm" của Nguyễn Khuyến không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung sâu sắc mà còn bởi giá trị nghệ thuật đặc sắc, đặc biệt là cách sử dụng ngôn từ tinh tế và bút pháp tả cảnh mang đậm hồn quê Việt Nam. Nhà thơ đã vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ Đường luật, "dân tộc hóa" nó bằng những hình ảnh, ngôn từ giản dị, mộc mạc của làng cảnh Bắc Bộ.
Trước hết, phải kể đến hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm được Nguyễn Khuyến sử dụng một cách tài tình. Ngay câu thơ mở đầu "Năm gian nhà cỏ thấp le te", từ láy "le te" được dùng để miêu tả chiều cao khiêm tốn của túp lều tranh. Nó không chỉ đơn thuần là thấp mà còn gợi ra cái dáng vẻ mỏng manh, tạm bợ, như đang co mình lại trước không gian rộng lớn của đất trời. Tiếp đến là "lập lòe" trong "Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe". Từ láy này vừa tả ánh sáng lúc ẩn lúc hiện của đom đóm, vừa tạo nên một không gian huyền ảo, lung linh nhưng cũng đầy hoang vắng, cô tịch. "Phất phơ" ở câu thực thứ nhất "Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt" lại gợi lên sự nhẹ nhàng, bồng bềnh, lững lờ của làn khói, hòa quyện vào sương thu. Còn "lóng lánh" trong "Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" là từ láy tượng hình rất đắt, diễn tả ánh trăng phản chiếu trên mặt nước lăn tăn, tạo ra những vệt sáng lấp lánh, lung linh. Mỗi từ láy được chọn lọc kỹ lưỡng, đặt đúng chỗ đã thổi hồn vào cảnh vật, khiến bức tranh thu không chỉ có đường nét, màu sắc mà còn có cả sự chuyển động, ánh sáng.
Bút pháp tả cảnh của Nguyễn Khuyến trong bài thơ này là sự kết hợp tuyệt vời giữa nét vẽ cổ điển và hiện thực. Ông lấy những chất liệu vô cùng quen thuộc của làng quê: nhà cỏ, ngõ xóm, giậu tre, ao làng, ánh trăng... để dựng nên bức tranh thu. Không có cảnh sắc tráng lệ, kỳ vĩ, tất cả đều rất đỗi bình dị, gần gũi. Điểm nhìn của nhà thơ có sự thay đổi linh hoạt. Từ điểm nhìn trong căn nhà thấp, nhìn ra ngõ tối, rồi phóng tầm mắt ra lưng giậu, xuống mặt ao. Sự thay đổi điểm nhìn này giúp bức tranh thu có chiều sâu và sinh động hơn. Đặc biệt, ông rất tài tình trong việc sử dụng các chi tiết nhỏ để gợi tả không gian và thời gian. Hình ảnh "đóm lập lòe" không chỉ cho thấy bóng tối đang bao trùm mà còn báo hiệu mùa thu đã đến, khi những chú đom đóm bắt đầu xuất hiện. "Màu khói nhạt" trên lưng giậu gợi cái se lạnh, ẩm ương của khí thu. "Bóng trăng loe" trên mặt ao lóng lánh cho thấy mặt nước đang gợn sóng nhẹ, bởi "hơi may" (gió heo may) của mùa thu. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh thu điển hình, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngoài ra, ngôn ngữ trong "Thu ẩm" còn mang tính chất tự nhiên, nôm na, giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Điều này thể hiện rõ nhất trong hai câu luận:
"Da trắng khỏi vòng chị ả chị
Rượu hồng uống để đỏ môi ông"
Cách xưng hô "chị ả chị", "môi ông" rất đỗi thân mật, dân dã. Giọng thơ tự nhiên như một lời nói thường, không hề trau chuốt, bóng bảy. Câu thơ vì thế mà trở nên hóm hỉnh, duyên dáng, mang đậm phong cách Nguyễn Khuyến. Ngay cả câu kết "Độ năm ba chén đã say nhè", từ "say nhè" cũng là một từ thuần Việt rất giàu hình ảnh, diễn tả cái say một cách hồn nhiên, thật thà. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ bác học (trong hệ thống từ Hán Việt ít ỏi, trong cấu trúc Đường luật) và ngôn ngữ bình dân đã tạo nên một phong cách thơ vừa trang nhã, vừa gần gũi, sâu sắc mà không kém phần tinh tế.
Tóm lại, thành công của bài thơ "Thu ẩm" không thể không kể đến những đóng góp to lớn về mặt nghệ thuật. Nguyễn Khuyến đã chứng tỏ ông là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn từ và bút pháp tả cảnh. Ông đã thổi một làn gió của làng quê Bắc Bộ vào thể thơ Đường luật vốn trang trọng, cổ kính, tạo nên một tuyệt tác vừa cổ điển, vừa hiện đại, vừa thanh cao, vừa bình dị, in đậm dấu ấn riêng của "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam".
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm - mẫu 4
Nếu "Thu vịnh" là bài thơ vịnh cảnh mùa thu một cách trực tiếp, "Thu điếu" là bức tranh tĩnh lặng của mùa thu thì "Thu ẩm" lại là khúc trữ tình sâu lắng, chất chứa nhiều tâm sự nhất của Nguyễn Khuyến. Mượn đề tài uống rượu mùa thu, nhà thơ đã gửi gắm vào đó những trăn trở, suy tư và nỗi niềm của một nhà nho bất lực trước thời cuộc đầy biến động, chọn con đường ẩn dật để giữ trọn khí tiết nhưng lòng vẫn đau đáu nỗi niềm thế sự.
Thời đại của Nguyễn Khuyến là thời đại đau thương của dân tộc. Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị. Là một nhà nho từng đỗ đạt cao (Hoàng giáp), ông ý thức rất rõ trách nhiệm của kẻ sĩ đối với nước, với dân. Tuy nhiên, sau một thời gian làm quan, ông nhận thấy không thể hợp tác với chính quyền thực dân, cũng không thể cứu vãn nổi tình thế. Ông đã dâng sớ xin từ quan về ở ẩn. "Thu ẩm" ra đời trong bối cảnh ấy, vì thế tâm trạng chủ đạo là nỗi cô đơn, buồn tủi của một kẻ sĩ "lỡ thời".
Hai câu thơ đầu tiên đã phác họa không gian sống ẩn dật của nhà thơ: "Năm gian nhà cỏ thấp le te / Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe". Đó là một không gian tách biệt với thế giới bên ngoài. Căn nhà cỏ thấp bé khiêm nhường nằm nép mình, con ngõ nhỏ tối tăm vắng lặng. Sự xuất hiện của "đóm lập lòe" càng tô đậm thêm sự hiu quạnh. Trong không gian ấy, chỉ có thi sĩ và thiên nhiên, và những chú đom đóm nhỏ bé. Hình ảnh con người dường như đã hòa tan vào cảnh vật, lặng lẽ, đơn độc. Cảnh vật mang nặng cái hồn của một tâm hồn cô đơn.
Sự xa lánh, tách biệt với thế giới bên ngoài được thể hiện rõ nét qua hai câu luận:
"Da trắng khỏi vòng chị ả chị
Rượu hồng uống để đỏ môi ông"
"Khỏi vòng" có nghĩa là thoát ra khỏi lũy tre xanh, ý chỉ các cô gái làng quê đã đi lấy chồng xa. Nhưng đặt trong bối cảnh của một nhà nho đã cáo quan, câu thơ còn mang một tầng nghĩa sâu xa hơn. "Da trắng" có thể tượng trưng cho những người trẻ, những sĩ phu ra làm quan, hợp tác với chế độ mới. Họ đã ra đi, đã "khỏi vòng" để bước vào một guồng quay khác của lịch sử. Còn nhà thơ, ông ở lại với căn nhà cỏ, với con ngõ tối, với nỗi cô đơn của mình. "Rượu hồng uống để đỏ môi ông" vừa là hành động tự trào, vừa là một sự khẳng định ngầm. Trong khi mọi người tất bật với công danh, với cuộc mưu sinh thì ông chỉ có rượu làm bạn. Uống rượu để sưởi ấm lòng mình, để quên đi thực tại phũ phàng. Cách nói có vẻ nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thực chất lại ẩn chứa một nỗi đau không nguôi.
Đến hai câu kết, nỗi niềm ấy như vỡ òa, nhưng vẫn trong một cách nói rất Nguyễn Khuyến:
"Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè"
Nhà thơ tự nhận tửu lượng của mình kém. Nhưng đây có phải là một lời tự thú thật thà? Hay là một cách nói để che giấu một sự thật khác? Với tâm trạng buồn, cô đơn, "chất chứa một tấm lòng không biết ngỏ cùng ai" (Xuân Diệu), thì chỉ cần vài chén rượu cũng đủ để ông say. Cái say của ông là cái say của người đang uống rượu giải sầu, sầu càng uống càng đầy. Và "say nhè" - một cái say bình thường, vật vã, không còn giữ được vẻ thanh cao, tỉnh táo của bậc thức giả. Chi tiết này cho thấy sự mệt mỏi, chán chường cùng cực. Ông không thể cứng cỏi, lạnh lùng mãi được. Có những lúc ông để mình chìm đắm trong men rượu, trong sự buông xuôi để tạm quên đi nỗi đau thời thế.
Tóm lại, "Thu ẩm" là một bức chân dung tự họa đầy chân thực và xúc động về tâm hồn Nguyễn Khuyến. Bài thơ không chỉ tả cảnh hay tả tình đơn thuần, mà qua việc uống rượu, nhà thơ đã giãi bày một cách sâu sắc tâm sự của mình trước thời cuộc. Đó là nỗi cô đơn của người trí thức bất lực trước vận mệnh đất nước, là tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu nặng, và là tình yêu với những giá trị văn hóa, cảnh sắc quê hương.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu ẩm - mẫu 5
Trong văn học trung đại Việt Nam, hiếm có nhà thơ nào lại sử dụng nghệ thuật tự trào một cách tinh tế và hiệu quả như Nguyễn Khuyến. "Thu ẩm" là một minh chứng tiêu biểu cho điều đó. Toàn bộ bài thơ là tiếng nói của cái tôi trữ tình – một nhà nho ẩn dật – vừa tự bạch, vừa tự cười mình, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là cả một nỗi niềm, một thái độ sống và một nhân cách đáng trân trọng.
Cái tôi trữ tình trong bài thơ hiện lên với một diện mạo rất cụ thể. Đó là con người đang sống trong một không gian làng quê nghèo: "Năm gian nhà cỏ thấp le te". Cái "thấp le te" vừa tả thực, vừa như một sự tự giễu của ông về cảnh ngộ của mình. Không phải là cao lương mỹ vị, cũng chẳng phải lầu son gác tía, ông chỉ có một túp lều tranh bé nhỏ. Ông hiện diện trong bóng tối của "ngõ tối đêm sâu", bên ánh sáng le lói của những con đom đóm. Hình ảnh con người ở đây không nổi bật, không làm chủ thiên nhiên mà hòa mình vào thiên nhiên, lặng lẽ và khiêm nhường. Đó là sự lựa chọn của ông, một sự lựa chọn mang tính ẩn dật.
Nét đặc sắc nhất của cái tôi trữ tình là giọng điệu tự trào, thể hiện tập trung ở bốn câu thơ cuối:
"Da trắng khỏi vòng chị ả chị
Rượu hồng uống để đỏ môi ông.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè."
Nhà thơ quan sát xung quanh và thấy các "chị ả" – những người trẻ, người làng – đã lần lượt "khỏi vòng", đi xa. Còn ông, ông ở lại, với thú vui duy nhất là uống rượu. "Rượu hồng uống để đỏ môi ông" – câu thơ vừa có vẻ ngông nghênh, vừa tự cười cái thú vui có phần "lẩm cẩm" của mình. Ông tự nhận mình là "tay mơ" trong chuyện rượu chè. Người ta đồn (tiếng rằng) ông uống rượu hay, nhưng sự thật thì "hay chẳng mấy", chỉ cần "năm ba chén" đã "say nhè" rồi. Cách nói "say nhè" thật thà, mộc mạc, như một lời tự thú hóm hỉnh, phủ nhận lời đồn thổi về tửu lượng của mình.
Tuy nhiên, nghệ thuật tự trào của Nguyễn Khuyến không chỉ dừng lại ở việc tự cười mình một cách vô tư. Đằng sau những lời lẽ có vẻ tự ti, tự giễu ấy là một nhân cách lớn, một tấm lòng yêu nước thầm kín và một sự tỉnh táo tuyệt đối. Việc ông tự nhận uống rượu kém, "độ năm ba chén đã say nhè", hóa ra lại là một cách để khẳng định sự nhạy cảm và nỗi buồn sâu sắc của mình. Chỉ cần vài chén rượu, trước cảnh thu, lòng ông đã say. Cái say ấy đến từ tâm sự u uất chất chứa trong lòng. Nếu ông là một người vô tư, vô cảm trước thời cuộc, thì có lẽ rượu vào, ông vẫn tỉnh. Nhưng vì quá tỉnh táo trước thế cuộc rối ren, vì quá nặng lòng với dân với nước, nên ông mới dễ dàng "say" đến thế.
Hơn nữa, việc lựa chọn cuộc sống ẩn dật với "nhà cỏ thấp le te", với "ngõ tối đêm sâu", với thú vui "rượu hồng" đơn điệu, tự nó đã là một sự khẳng định nhân cách. Giữa lúc xã hội đua chen danh lợi, nhiều người lựa chọn con đường ra làm quan, cộng tác với chế độ mới, thì Nguyễn Khuyến chọn lui về ở ẩn, giữ mình trong sạch. Ông không trực tiếp lên tiếng chỉ trích hay phê phán ai, nhưng qua giọng thơ tự trào, ông đã ngầm bộc lộ thái độ của mình: một thái độ từ chối hợp tác, một sự giữ gìn khí tiết thanh cao. Nụ cười tự trào của ông vì thế là nụ cười của người trí thức giàu bản lĩnh, dám sống thật với lòng mình giữa thời buổi nhiễu nhương.
Tóm lại, xuyên suốt bài thơ "Thu ẩm" là hình tượng cái tôi trữ tình đậm chất Nguyễn Khuyến. Đó là một cái tôi khiêm nhường, ẩn dật, luôn mang một nỗi buồn sâu lắng trước thời thế. Nghệ thuật tự trào được sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để nhà thơ vừa bộc lộ tâm sự, vừa kín đáo khẳng định nhân cách và thái độ sống của mình. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung trữ tình sâu sắc và nghệ thuật tự trào độc đáo đã tạo nên sức sống lâu bền cho bài thơ trong lòng độc giả.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Chiều hôm nhớ nhà
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thăng Long thành hoài cổ
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thu Vịnh
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Nhàn
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Tức cảnh chiều thu
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Cảnh khuya
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:
- Mục lục Văn phân tích, phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận
- Mục lục Văn biểu cảm
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn nghị luận
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8 và Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 8 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Friends plus
- Lớp 8 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) KNTT
- Giải sgk Toán 8 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 8 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 8 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - KNTT
- Giải sgk Tin học 8 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 8 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 8 - KNTT
- Lớp 8 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 8 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 8 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 8 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - CTST
- Giải sgk Tin học 8 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 8 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 8 - CTST
- Lớp 8 - Cánh diều
- Soạn văn 8 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 8 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 8 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 8 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 8 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 8 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 8 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

