(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143 - Kết nối tri thức

Bài viết soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143, 144, 145, 146, 147, 148 siêu ngắn gọn sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức giúp học sinh lớp 9 dễ dàng soạn văn 9.

(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143 - Kết nối tri thức

Quảng cáo

Soạn bài: Ôn tập học kì 1 - Cô Lê Hạnh (Giáo viên VietJack)

Phiếu học tập số 1

1. Đọc

a. Đọc văn bản

Phân tích văn bản Khóc Dương Khuê (trang 143 sgk Ngữ văn 9 Tập 1)

b. Thực hiện các yêu cầu bên dưới

Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu hỏi 1 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những dấu hiệu nào cho thấy đoạn trích mang đặc điểm của thể thơ song thất lục bát?

A. Ngôn ngữ được tác giả sử dụng trong đoạn trích

B. Số tiếng trong các câu thơ và cách hiệp vần giữa các câu thơ liền nhau

Quảng cáo

C. Các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn trích

D. Những cung bậc cảm xúc được nhà thơ thể hiện trong đoạn trích

Trả lời:

Chọn đáp án B.

Câu hỏi 2 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Cách hiệp vần nào được sử dụng trong đoạn trích trên?

A. Tất cả các câu liền nhau hiện vần với nhau

B. Chỉ có một số câu liền nhau hiệp vần với nhau

C. Chỉ có các cặp lục bát hiệp vần với nhau

D. Chỉ có các cặp câu bảy tiếng hiệp vần với nhau

Trả lời:

Chọn đáp án A.

Câu hỏi 3 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trạng thái cảm xúc gì của nhà thơ được thể hiện trong hai câu thơ: Làm sao bác vội về ngay,/ Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời?

Quảng cáo

A. Bình tĩnh, thản nhiên

B. Thảng thốt, hụt hẫng

C. Tuyệt vọng, sợ hãi

D. Cô đơn, thương mình

Trả lời:

Chọn đáp án B.

Câu hỏi 4 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong hai câu thơ: Ai chẳng biết chán đời là phải/ Vội vàng sao đã mải lên tiên, biện pháp tu từ nào được sử dụng?

A. So sánh

B. Nói quá

C. Nhân hóa

D. Nói giảm nói tránh

Trả lời:

Chọn đáp án D.

Quảng cáo

Câu hỏi 5 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nhận định nào nêu đúng nội dung chính của đoạn trích?

A. Đoạn trích nói về những kỉ niệm thời trẻ của tác giả với bạn

B. Đoạn trích thể hiện sự bi quan của tác giả trước một sự việc đau thương

C. Đoạn trích là tiếng lòng bi thiết của tác giả khi nghe tin bạn quý vừa mất

D. Đoạn trích cho thấy nhận thức của tác giả về quy luật tất yếu của đời người

Trả lời:

Chọn đáp án C.

Trả lời câu hỏi.

Câu 1 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tâm trạng của tác giả được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Trả lời:

Tâm trạng bàng hoàng, xót thương đến tận cùng của tác giả Nguyễn Khuyến: “thôi đã thôi rồi”. Nhóm từ "thôi đã thôi rồi" thay cho khái niệm "đã mất", "đã chết", "đã qua đời", một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi nỗi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Hình ảnh "nước mây" được liên kết với các từ láy "man mác", "ngậm ngùi" diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương đôi đường, buồn đau, nặng trĩu.

Câu 2 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những biểu hiện nào cho thấy tình cảm sâu nặng giữa tác giả và người bạn của mình?

Trả lời:

- Những biểu hiện:

+ Chữ "bác" trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc.

+ Chữ "kính" và chữ "lễ" in đậm trong phong cách ứng xử của Tam nguyên Yên Đổ: "Bác già tôi cũng già rồi...”, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật.

Câu 3 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích và phân tích hiệu quả nghệ thuật ở từng trường hợp.

Trả lời:

- Các từ láy:

hững hờ; ngẩn ngơ: Thể hiện sự vô cảm với tất cả mọi thứ vì đã mất đi một người bạn tri kỉ.

vội vàng: Thể hiện hành động ra đi bất ngờ của người bạn để lại sự thiếu vắng lẻ loi trong lòng tác giả.

chứa chan: Thể hiện cảm xúc đau buồn, xót thương đến tột cùng, không thể kìm được nước mắt.

Câu 4 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Em cần làm gì để biết ý nghĩa của các điển tích được tác giả sử dụng trong đoạn trích? Phân tích tác dụng của các điển tích đó.

Trả lời

- Để hiểu được các điển tích em cần đọc chú thích.

- Tác dụng: Làm nổi bật lên cảm xúc của tác giả và tình cảm dành cho người bạn đã ra đi.

Câu 5 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Ở những câu thơ sau, biện pháp tu từ điệp ngữ có tác dụng như thế nào trong việc diễn tả các cung bậc cảm xúc của nhà thơ?

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa:

Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Trả lời:

- Tác dụng:

+ Người đã không còn thì không có cảm hứng làm bất cứ điều gì dù đó có là thú vui nhất trong cuộc đời thì đều trở nên vô nghĩa. 

+ Nguyễn Khuyến rất đau đớn, mất mát khi người bạn thân tri kỉ ra đi.

2. Viết

Câu hỏi (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết bài văn phân tích trích đoạn bài thơ Khóc Dương Khuê ở phần Đọc.

Trả lời:

Bài văn tham khảo:

Trong nền thơ văn Việt Nam đã in dấu hơn một nghìn năm lịch sử của dân tộc, nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng đóng góp một phần vẻ vang trong đó. Những bài thơ của ông mang những tình cảm chân thực đẹp đẽ của người Việt Nam, được diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt Nam gần gũi và giản dị. Trong số các bài thơ ấy tiêu biểu là bài “Khóc Dương Khuê”.

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ tiến sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn, tuy nhiên sau năm 1884, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến cáo quan về làng nhưng Dương Khuê thì không có cái chí hướng đó, ông tiếp tục làm quan cho triều đình bấy giờ là tay sai cho thực dân, cho tới lúc ông qua đời ở tuổi 64. Cái chết đột ngột của Dương Khuê là một đau của Nguyễn Khuyến. Chẳng màng đến những chuyện khác, lúc đó Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ rằng mình đã mất đi một người bạn thân, một tình cảm quý già không có gì có thể thay thế được. Tự ông hiểu được tình bạn ấy đến chính ông cũng không đo lường hết được chiều sâu, và rồi ông kêu lên những tiếng thảng thốt:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.”

Chẳng còn sự trau chuốt văn chương chữ nghĩa, câu thơ chỉ còn là nỗi đau, một nỗi đau chân thành và trọn vẹn. Tiếng “thôi” nghe dân giã mà tự nhiên làm sao, bộc phát từ chính sự đau đớn trong cõi lòng tác giả, trong hoàn cảnh xã hội mà người ta luôn đề cao sự “cao nhã” trong văn chương thì ta thấy Nguyễn Khuyến đã coi trọng sự chân thực đời thường đến mức nào. Tuy là nói đến cái chết nhưng ông lại không dám nói hẳn từ “chết”, thay vào đó là “thôi đã…thôi rồi”, vậy là coi như hết, hết thật rồi, ông đã mất đi người bạn thân mãi mãi. Kẻ quyền quý có đánh rơi viên ngọc quý độc nhất vô nhị cũng chỉ kêu đến vậy mà thôi, nếu như không đau nỗi đau thật làm sao có thể khóc tiếng khóc thật đến thế. Chỉ có điều nỗi đau ấy của Nguyễn Khuyến không thể thét lên, ông khóc với chính mình, tự mình khóc mình nghe, tiếng khóc đi vào lòng chứ chẳng thấu đến ai. Lúc này ông muốn ngồi một mình, ngồi với người bạn đã mất để cùng nhớ lại những kỉ niệm đã có từ những ngày đã rất xa xôi:

“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước…

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời.”

Tình bạn ấy được gắn bó từ khi hai người cùng đi thi Hương và đỗ cùng nhau, hai người vốn khác quê, xa lạ, chẳng quen biết gì nhưng cứ như duyên trời định sẵn, họ cứ thế gắn bó cùng nhau. Đọc câu từ của Nguyễn Khuyến ta cảm thấy thật bình dị mà gần gũi, thân mật “sớm hôm”, “tôi bác”, “cùng nhau”, chan chứa tình cảm gắn bó, sự “kính yêu từ trước đến sau”.

“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách…

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.”

Đôi bạn tâm đầu ý hợp đã từng trải qua những ngày tháng vui vẻ, thú vị, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui của kẻ cao nhân mặc khách. Tâm hồn nhà thơ như đang rung động trước những kỉ niệm, đang sống lại với những cảm giác “từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn tiếng hát “ả đào”. Là những người bạn đến với nhau như duyên số, thân vì lòng mến mộ nhau, nên tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê như là chỗ tri âm tri kỉ, “Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp…Biết bao đông bích, điển phần trước sau.” Chỉ nhấp chén rượu để thưởng thức vị đậm và mùi thơm, vừa ngẫm nghĩ để cho bầu thơ thêm lai láng. Cùng phụng sự dưới một triều đại, đôi bạn thân đã cùng chia sẻ nỗi đau mất nước, ông cũng cảm thấy mình bất lực, cam chịu nặng nề. Không chỉ thương cho người bạn đã ra đi mà đây còn là sự thương mình, thương mình đã mất đi một người tri kỉ. Nguyễn Khuyến đã mang trong mình cả nỗi đau mất tri kỉ, cả nỗi đau thời thế:

“Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên.”

Sự ra đi mãi mãi của người bạn tri kỉ là sự mất mát quá lớn đối với ông, sự thiếu vắng lẻ loi trong cuộc đời.

Bài thơ Khóc Dương Khuê mang một nỗi niềm tiếc nuối sâu sắc về một tình bạn tri kỉ, góp phần khẳng định về tình cảm giữa những con người với nhau. Bài thơ đã để lại cái nhìn cao đẹp về tình bạn cũng như nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến.

3. Nói và nghe

Câu hỏi (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Thảo luận về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Trả lời

Bài văn tham khảo

Trong suốt hành trình trưởng thành và tồn tại của con người, có những giá trị tinh thần vô cùng quý giá mà không vật chất nào có thể thay thế được. Một trong số đó chính là tình bạn – mối quan hệ gắn bó giữa những con người cùng chia sẻ, thấu hiểu và nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Tình bạn không chỉ là một nhu cầu tự nhiên của con người mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, tinh thần và lối sống của mỗi cá nhân.

Trước hết, tình bạn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Khi ta mệt mỏi, chán nản hay gặp thất bại, một lời động viên chân thành từ người bạn thân có thể tiếp thêm sức mạnh để ta đứng dậy và bước tiếp. Tình bạn mang đến sự sẻ chia, làm vơi đi những nỗi buồn và nhân lên niềm vui trong mỗi người.

Không chỉ vậy, tình bạn còn giúp ta hoàn thiện bản thân. Một người bạn tốt sẽ biết khuyên nhủ, góp ý khi ta sai lầm; cổ vũ khi ta do dự và cùng ta hướng đến những giá trị tích cực. Trong quá trình giao tiếp, ứng xử với bạn bè, ta học được cách lắng nghe, tôn trọng, bao dung và thấu hiểu người khác – những phẩm chất rất cần thiết để trở thành một con người trưởng thành.

Tình bạn cũng chính là một phần không thể thiếu trong sự phát triển xã hội. Những mối quan hệ bạn bè chân thành, lành mạnh giúp gắn kết cộng đồng, tạo nên một môi trường sống tích cực và nhân văn. Từ tình bạn nhỏ giữa hai cá nhân, chúng ta có thể xây dựng nên những mối quan hệ lớn hơn – tình đồng chí, tình đồng nghiệp, tình đoàn kết dân tộc.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, không phải lúc nào tình bạn cũng tồn tại đúng nghĩa. Có những mối quan hệ chỉ mang tính lợi dụng, giả tạo, hoặc những "tình bạn độc hại" khiến con người bị kéo vào lối sống sai lệch. Chính vì thế, mỗi người cần biết lựa chọn bạn mà chơi, xây dựng và giữ gìn những tình bạn chân thành, biết quan tâm, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau.

Tóm lại, tình bạn là một giá trị thiêng liêng và cần thiết trong cuộc sống của mỗi người. Một người có bạn bè tốt sẽ không bao giờ cảm thấy cô đơn trên hành trình của mình. Vì vậy, chúng ta hãy biết trân trọng, nuôi dưỡng và giữ gìn tình bạn bằng cả sự chân thành và trách nhiệm, để tình bạn mãi là ngọn lửa ấm áp sưởi ấm tâm hồn con người.

Phiếu học tập số 2

1. Đọc

a. Đọc văn bản

Phân tích văn bản Một nét nổi bật trong sáng của Nam Cao (Trích Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng) (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1)

b. Thực hiện các yêu cầu bên dưới

Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Người viết đánh giá cao sở trường nào của Nam Cao trong sáng tạo văn học?

A. Xây dựng cốt truyện hấp dẫn

B. Kể chuyện sinh động, lôi cuốn

C. Khắc họa tính cách nhân vật sắc nét

D. Tả cảnh thiên nhiên tinh tế, gợi cảm

Trả lời:

Chọn đáp án C.

Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực.” - sau câu văn này, tác giả triển khai đoạn văn theo hướng nào?

A. Phản bác ý của câu vừa nêu, sau đó đưa ra ý được cho là đúng

B. Chứng minh cho ý của câu vừa nêu, sau đó khái quát lại

C. Nhận xét câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn

D. Giải thích câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn

Trả lời:

Chọn đáp án B.

Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tên một số tác phẩm của Nam Cao được nhắc đến ở bài viết nhằm mục đích gì?

A. Minh họa cho ý kiến được tác giả nêu trước đó

B. Cho thấy sự phong phú trong sáng tác của Nam Cao

C. Cho thấy tác giả am hiểu về các sáng tác của Nam Cao

D. Nêu bật những đóng góp của Nam Cao đối với nền văn học

Trả lời:

Chọn đáp án D.

Câu 4 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Dòng nào sau đây nêu đúng những nét chung giữa các nhân vật trong truyện của Nam Cao?

A. Đó là những người cùng chung nghề nghiệp

B. Đó là những người cùng thành phần xã hội

C. Đó là những người cùng hoàn cảnh sống

D. Đó là những kiếp người đau khổ, bất hạnh

Trả lời:

Chọn đáp án B.

Câu 5 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Theo nội dung đoạn trích, điều gì không có tác dụng tạo nên sức hấp dẫn của truyện Nam Cao?

A. Ngoại hình khác thường, thậm chí dị dạng của một số nhân vật

B. Sự đồ sộ về số lượng tác phẩm và sự kết tinh cao độ các giá trị nghệ thuật

C. Cách nhìn của tác giả về cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người

D. Giọng trữ tình ấm áp, thể hiện niềm trân trọng mọi biểu hiện của sự sống

Trả lời:

Chọn đáp án B.

Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Có thể xem văn bản Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao thuộc loại văn bản nghị luận văn học được không? Vì sao?

Trả lời

- Có thể xem văn bản thuộc văn bản nghị luận vì:

+ Văn bản phân tích sáng tác của một tác giả văn học nhằm làm rõ giá trị văn học.

+ Có đối tượng nghị luận rõ ràng thể hiện quan điểm và cảm nhận văn học.

Câu 2 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nhận xét về cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng của tác giả trong văn bản.

Trả lời

- Sử dụng lí lẽ và bằng chứng thuyết phục, xác thực và được trình bày theo một trình tự hợp lí.

Câu 3 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tác giả đã lí giải như thế nào về sự thành công của Nam Cao trong sáng tác văn học?

Trả lời

- Tác giả đã lí giải: Nam Cao là một trong số ít nhà văn của chúng ta đã để lại cho văn học nhiều nhân vật không thể quên được, buộc người đọc phải nghĩ về họ, thông qua họ để nghĩ về cuộc sống.

Câu 4 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những nội dung nào đã triển khai trong bài viết cho phép tác giả đi đến kết luận: “Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn”?

Trả lời

- Nội dung đã triển khai:

Đọc Nam Cao người ta có ấn tượng rõ rệt về các nhân vật có tính cách nổi bật, đồng thời lại có cảm nhận sâu sắc cách nhìn của tác giả đối với cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người.

Nam Cao là một trong số ít nhà văn của chúng ta đã để lại cho văn học nhiều nhân vật không thể quên được, buộc người đọc phải nghĩ về họ, thông qua họ để nghĩ về cuộc sống.

=> Đọc Nam Cao con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn.

Câu 5 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Văn bản trên giúp em hiểu được những gì về nhà văn Nam Cao?

Trả lời

- Giúp em hiểu về vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà văn Nam Cao: ông luôn hướng về số phận những con người nghèo khổ phải chịu số phận bất hạnh.

2. Viết

Câu hỏi (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết bài văn nghị luận phân tích một truyện ngắn được sáng tác trong những năm gần đây.

Trả lời

Bài văn tham khảo

Tác phẩm “Bức tranh của em gái tôi” xoay quanh câu chuyện của hai đứa trẻ. Nhưng nó mang tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn, có thể nhận thấy qua câu chuyện tác giả muốn gửi đến chúng ta một thông điệp hãy luôn chiến thắng thói đố kỵ tầm thường bằng lòng khiêm tốn của chính mình.

Qua câu chuyện dù không quá dài nhưng người đọc có thể thấy được tài xây dựng nhân vật và kể chuyện của Tạ Duy Anh vô cùng ấn tượng. Tác giả đã sử dụng ngôi thứ nhất để kể chuyện, tác giả vào vai người anh trai để kể về cô em gái của mình cũng như bộc lộ tâm trạng và tình cảm một cách sâu kín nhất. Đồng thời vẻ đẹp của cô em gái đã được thể hiện một cách rõ nét hơn.

Với ngôi kể thứ nhất diễn biến tâm trạng của anh trai được dẫn dắt rất từ từ và tự nhiên qua từng tình huống làm người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tâm trạng theo mạch của câu chuyện rất cụ thể. Thoạt đầu khi thấy em gái vẽ và tự chế màu vẽ người anh coi đó chỉ là trò nghịch của em mình, sự coi thường đó thể hiện qua từ cách gọi cô em gái của người anh. Khi tài năng vẽ tranh của cô em gái được phát hiện thì tâm trạng người anh trai cũng biến đổi theo. Chú Tiến Lê bất ngờ phát hiện ra tài năng vẽ tranh của em gái, bố mẹ cảm thấy vui mừng, duy chỉ có người anh thấy buồn vì ngay lúc đó người anh nghĩ rằng mình bị cho ra ngoài, cả nhà đã quên mất mình. Chính vì thế tình cảm của người anh trai không còn như trước đến mức chỉ cần em gái mắc một lỗi nhỏ người anh cũng gắt um lên… Đây là một dạng tâm lý thường thấy ở nhiều người đó chính là lòng tự ái khi thấy người khác hơn mình. Chắc chắn Tạ Duy Anh là một người rất am hiểu tâm lý trẻ em nên mới có thể mô tả được tâm trạng của người anh một cách tự nhiên là liên kết như vậy.

Đến cuối truyện khi người anh được tặng bức tranh đoạt giải của người em và điều bất ngờ là người trong bức tranh chính là mình thì người anh trai đã thực sự bất ngờ. Và bất ngờ hơn khi trong mắt em gái, mình không đáng ghét mà lại rất đỗi thân thương, với đôi mắt như tỏa ra một thứ ánh sáng lạ. Lúc này bỗng chốc con người cậu trở nên mềm nhũn, cậu bé bất ngờ, hãnh diện và rồi tự thấy xấu hổ. Tâm trạng xấu hổ của người anh lúc này cũng chính là lúc để nhân vật tự thức tỉnh con người ích kỷ của mình. Câu hỏi bỏ lửng “dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến kia ư?” như nói lên sự dằn vặt, sự tỉnh giấc trong con người của cậu bé.

Qua câu chuyện “Bức tranh của em gái tôi” ngoài cảm nhận được vẻ đẹp của cô em gái Kiều Phương, sự thức tỉnh của người anh cũng nhắn nhủ chúng ta rằng hãy tự nhìn lại bản thân. Quả là một bài học về nhân cách rất sâu sắc mà tác giả muốn truyền đạt lại.

3. Nói và nghe

Câu hỏi (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Chọn một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống của lứa tuổi học sinh, lập dàn ý cho bài nói và tập trình bày.

Trả lời

Dàn ý cho bài nói

I. Mở đầu

- Chào hỏi, giới thiệu chủ đề: Xin chào thầy cô và các bạn!

+ Hôm nay, mình xin chia sẻ về một vấn đề rất phổ biến và đáng lo ngại trong cuộc sống học sinh hiện nay, đó là: hiện tượng nghiện điện thoại và mạng xã hội.

+ Nêu lý do chọn đề tài: Bởi vì hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, học tập và mối quan hệ xã hội của chúng ta – những học sinh đang trong độ tuổi phát triển.

II. Nội dung chính (Thân bài)

1. Thực trạng

- Nhiều học sinh sử dụng điện thoại quá mức: lướt mạng, chơi game, xem video TikTok hàng giờ mỗi ngày.

- Nhiều bạn vừa học vừa cầm điện thoại, mất tập trung.

- Một số bạn lệ thuộc vào "like", "comment", đánh giá ảo từ mạng xã hội.

2. Nguyên nhân

- Điện thoại và mạng xã hội hấp dẫn, gây nghiện.

- Thiếu kiểm soát thời gian sử dụng.

- Có thể do áp lực học tập, cô đơn, thiếu tương tác thực tế nên tìm đến thế giới ảo.

3. Hậu quả

- Suy giảm sức khỏe: mỏi mắt, đau cổ, mất ngủ.

- Giảm kết quả học tập: thiếu tập trung, chậm tiến bộ.

- Ảnh hưởng tâm lý: dễ cáu gắt, so sánh bản thân, sống ảo.

- Mất dần các mối quan hệ thật, kỹ năng giao tiếp yếu.

4. Giải pháp

- Quản lý thời gian sử dụng điện thoại hợp lý (ví dụ: không dùng khi học, không dùng sau 22h...).

- Tăng cường các hoạt động vận động, đọc sách, giao lưu bạn bè thật.

- Phối hợp giữa học sinh – gia đình – nhà trường để hướng dẫn sử dụng mạng đúng cách.

III. Kết bài

- Khẳng định lại vấn đề: Nghiện điện thoại và mạng xã hội là một vấn đề không thể xem nhẹ, nếu không kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tương lai.

- Lời kêu gọi/thông điệp cá nhân: Là học sinh, chúng ta hãy sử dụng công nghệ một cách thông minh, vừa học tập hiệu quả, vừa giữ gìn sức khỏe và các mối quan hệ ý nghĩa ngoài đời thật.

Bài nói tham khảo

Xin chào thầy cô và các bạn,

Mình là [Tên bạn], hôm nay mình xin được chia sẻ về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống học sinh: hiện tượng nghiện điện thoại và mạng xã hội.

 Hiện nay, rất nhiều bạn học sinh – trong đó có cả chúng ta – đang dành quá nhiều thời gian cho điện thoại: lướt TikTok, chơi game, "chat", xem YouTube… nhiều khi quên cả việc học và nghỉ ngơi. Nguyên nhân là do mạng xã hội rất hấp dẫn, đồng thời chúng ta chưa biết cách quản lý thời gian, hoặc đơn giản là đang trốn tránh áp lực thực tế. Tuy nhiên, hậu quả thì rất rõ: sức khỏe giảm sút, học tập sa sút, tâm lý dễ bị ảnh hưởng tiêu cực. Có người sống ảo, so sánh bản thân với người khác, thậm chí bị trầm cảm. Vì vậy, mình nghĩ rằng mỗi chúng ta cần giới hạn thời gian dùng điện thoại, chỉ dùng cho mục đích học tập và giải trí lành mạnh. Hãy dành thời gian gặp gỡ bạn bè, đọc sách, vận động thể thao – đó mới là cách giúp mình khỏe mạnh và hạnh phúc thật sự.

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!

Xem thêm các bài Soạn văn lớp 9 Kết nối tri thức siêu ngắn, hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 9 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức siêu ngắn của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 (NXB Giáo dục).

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 Kết nối tri thức khác