Câu hỏi 1 (Trang 18 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Theo trải nghiệm và vốn văn học của bạn, những thời điểm như buổi bình minh, lúc hoàng hôn, đêm trăng rằm,… có vị trí như thế nào trong cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ xưa và nay?
Trả lời
Các khoảnh khắc như bình minh, hoàng hôn, đêm trăng rằm thường làm cho các nhà thơ cảm hứng. Đối với những nhà thơ cách mạng, chúng có thể là biểu tượng cho hy vọng, đoàn kết và niềm tin vào tương lai tươi sáng. Bình minh là sự bắt đầu mới, hoàng hôn là lúc suy ngẫm về thành tựu và hy sinh, đêm trăng rằm là thời điểm mơ mộng về đoàn kết.
Theo em, những thời điểm như bình minh, hoàng hôn hay đêm trăng rằm luôn là nguồn cảm hứng quan trọng trong thơ ca xưa và nay. Đây là những khoảnh khắc thiên nhiên giàu vẻ đẹp và dễ gợi cảm xúc, suy tư cho con người. Các nhà thơ thường mượn những hình ảnh ấy để bộc lộ tình yêu thiên nhiên, nỗi nhớ, tâm trạng cô đơn hoặc khát vọng sống. Vì vậy, chúng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca và góp phần tạo nên vẻ đẹp trữ tình cho tác phẩm.
Câu hỏi 2 (Trang 18 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Hãy cho biết hình dung của bạn về nội dung sáng tác của những nhà thơ vốn lấy lí tưởng cách mạng làm lẽ sống.
Quảng cáo
Trả lời
Các nhà thơ lý tưởng cách mạng thường sử dụng ngôn từ mạnh mẽ và tình cảm sâu sắc trong sáng tác của mình. Họ thường viết về cuộc đấu tranh cho tự do, công bằng và các giá trị nhân văn cao cả. Tuy nhiên, họ cũng thường lựa chọn hình ảnh thiên nhiên để thể hiện tình cảm và quan điểm của mình một cách sâu sắc và ý nghĩa.
Theo em, những nhà thơ lấy lí tưởng cách mạng làm lẽ sống thường hướng ngòi bút vào các đề tài như lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, ca ngợi nhân dân và người chiến sĩ cách mạng. Thơ của họ không chỉ bộc lộ cảm xúc cá nhân mà còn thể hiện lí tưởng sống cao đẹp, niềm tin vào tương lai và khát vọng tự do, độc lập của dân tộc. Bên cạnh đó, các tác phẩm còn mang tinh thần lạc quan, ý chí vượt khó và có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ đối với con người trong những giai đoạn khó khăn của đất nước.
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Mộ (Chiều tối) - Hình dung cảnh ngộ nhân vật trữ tình phải trải qua trên đường đi đày.
Trả lời
Bằng cách miêu tả tình cảm của nhân vật, bài thơ này gợi lên cảm giác cô đơn và mệt mỏi, nhưng đồng thời cũng tràn đầy tinh thần lạc quan và yêu đời. Mặc dù nhân vật trải qua những khó khăn như cuộc đi đày, nhưng trong từng dòng thơ, hình ảnh thiên nhiên vẫn hiện lên tươi đẹp và trữ tình.
Quảng cáo
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Hình ảnh thiên nhiên yên bình trong bài thơ không chỉ phản ánh cuộc sống giản dị của người lao động mà còn thể hiện tinh thần lạc quan và đam mê với cuộc sống của Hồ Chí Minh, ngay cả khi gặp khó khăn. Đây cũng là biểu tượng cho niềm tin vào sự sống, ánh sáng và một tương lai tươi sáng hơn, bất kể hiện tại có khó khăn đến đâu.
- Nhân vật trữ tình phải trải qua hoàn cảnh tù đày vô cùng gian khổ, mệt mỏi và cô đơn.
- Người tù bị giải đi vào lúc chiều tối, phải di chuyển trên đường núi trong tình trạng bị xiềng xích, thiếu thốn và kiệt sức.
- Tuy vậy, nhân vật trữ tình vẫn giữ được tâm hồn nhạy cảm, hướng về thiên nhiên và sự sống bình dị của con người.
2. Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) - Chú ý: hiện tượng điệp từ ở câu 2, mối tương quan giữa tính chất không gian và hoạt động của con người ở câu 3.
Trả lời
Trong bài thơ "Mộ" của Hồ Chí Minh, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên được thể hiện qua hình ảnh của buổi chiều tối yên bình, với cảnh chim quyện về rừng và mây lững lờ trôi. Bằng cách sử dụng bút pháp tinh tế và những hình ảnh giản dị nhưng đầy chất thơ, bài thơ phản ánh tâm trạng của Bác khi bị giam giữ, nỗi cô đơn và khát vọng tự do.
- Ở câu thơ thứ hai của bài Nguyên tiêu, từ “xuân” được điệp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của thiên nhiên đêm rằm tháng Giêng.
- Việc điệp từ còn làm cho không gian mùa xuân trở nên rộng lớn, liên tiếp và ngập tràn ánh sáng, sức sống.
- Ở câu thơ thứ ba, giữa không gian thiên nhiên rộng lớn của sông nước mùa xuân, con người hiện lên với hoạt động “bàn bạc việc quân”.
- Điều đó cho thấy sự hòa hợp giữa con người cách mạng với thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật phong thái ung dung, chủ động của người chiến sĩ cách mạng giữa hoàn cảnh kháng chiến.
Quảng cáo
* Sau khi đọc:
Nội dung chính:
- Mộ (Chiều tối): thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của Bác trong hoàn cảnh tù đày vô cùng cực khổ.
- Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng): miêu tả cảnh đêm trăng và buổi họp bàn việc quân của Bác với các cán bộ cách mạng được thực hiện bí mật trên sông nước ở chiến khu Việt Bắc.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Nhận xét về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên (hình ảnh, bút pháp,…) trong hai câu thơ đầu của mỗi bài thơ.
Trả lời
Trong bài thơ "Mộ" của Hồ Chí Minh, thiên nhiên được miêu tả qua hình ảnh của một buổi chiều tối yên bình, với cảnh chim quyện về rừng và mây lững lờ trôi. Bằng cách sử dụng bút pháp tinh tế và những hình ảnh giản dị nhưng đầy chất thơ, bài thơ phản ánh tâm trạng của Bác khi bị giam giữ, nỗi cô đơn và khao khát tự do.
- Bài thơ Mộ:
+ Hình ảnh một cánh chim mỏi mệt bay về tổ, gợi thời gian chiều tối, gợi nhịp điệu của cuộc sống tự nhiên ngầm đối lập với hình ảnh người tù bị giải đi trên con đường vô tận, không biết đâu là điểm dừng. Hình ảnh chòm mây cô lẻ chẩm chậm trôi qua bầu trời rộng lớn lúc trời chiều gợi cảm giác xa vắng, bâng khuâng.
+ Từ ngữ đặc tả tâm trạng, gợi lên cái hồn của sự vật: dùng những từ vốn chỉ trạng thái thể chất, tinh thần của con người (quyện, cô,...) để miêu tả thiên nhiên.
+ Bút pháp chấm phá, tạo hình: đối ứng và nối tiếp giữa cái hữu hình và cái vô hình, cái hữu hạn và cái vô hạn (cánh chim, chòm mây với thời gian và không gian,...).
- Bài thơ Nguyên tiêu:
+ Sự tinh tế, nhạy cảm của tác giả khi “nắm bắt" vẻ đẹp của v ng trăng đúng vào thời điểm đêm rằm tháng Giêng: Vẻ đẹp, sức sống viên mãn của vầng trăng được nhìn theo sự vận động nội tại của nó chứ không phải theo vẻ ngoài thuần tuý. Sông xuân, nước xuân, trời xuân mở rộng không gian trong chiều vận động từ cận cảnh (mặt đất) đến viễn cảnh (bầu trời),...
+ Từ ngữ chắt lọc, biện pháp tu từ điệp ngữ: tạo ấn tượng về sự vận động và sức sống căng tràn, biểu thị tâm hồn tự do, phóng khoáng.
+ Nghệ thuật miêu tả, bút pháp tạo hình: câu 1 nói sự vận động trong thời gian (của vầng trăng, "hành trình” đến độ tròn đầy); câu 2 nói sự vận động trong không gian, theo tầng bậc, tiếp nối (vẻ xuân của sông, sắc xuân của nước, khí xuân của trời), tạo ấn tượng về sức sống mùa xuân bao trùm vũ trụ.
Câu 2 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Dựa vào hoàn cảnh sáng tác của mỗi tác phẩm, hãy chỉ ra tác động của thời điểm chiều tối và đêm trăng rằm tháng Giêng đến cảm xúc và tâm trạng của nhà thơ trong mỗi bài.
Trả lời
Bài thơ "Mộ" của Hồ Chí Minh phản ánh cuộc sống trong nhà lao của quân địch, với cảnh chiều tối trên đường từ nhà lao Thiên Bảo đến Long Tuyền. Trái lại, "Nguyên Tiêu" viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là trong đêm trăng rằm tháng Giêng ở Việt Bắc, tượng trưng cho hy vọng và sức mạnh tinh thần.
+ Trong cảm thức chung của mỗi chúng ta, "chiều tối" (mộ) là sự đồng hiện khó phân tách giữa ý niệm về khung cảnh không gian và thời gian cuối ngày. Theo "nhịp điệu” của sự sống, đó là thời khắc mà mọi sinh linh đều cần nghỉ ngơi; theo “chiều kích”của tầm mắt, là giới hạn dần khép lại – tĩnh tại – ngưng lặng của bóng đêm. "Chim về tổ" –"người về nhà", đó là một logic thông thường, đúng quy luật. Nhưng ở đây có một sự bất thường: nhân vật trữ tình/ nhà thơ – kẻ chịu gông xiềng/ người chiến sĩ đang phải đối diện với một hành trình không có điểm dừng, bị mất tự do. Trong hoàn cảnh ấy, con người dễ rơi vào tâm trạng bi quan, bế tắc, cô đơn. Nhưng hiện diện trong khung cảnh núi rừng chiều tối này lại là hình ảnh tự tại của một con người có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, mạnh mẽ,...
+ Rằm tháng Giêng, đêm trăng tròn đầu tiên của một năm (theo lịch âm dương của nhiều quốc gia phương Đông) là thời điểm đặc biệt, gắn với ý niệm khởi đầu tốt lành của một vận hội mới. Sinh khí đất trời hoà điệu với tâm hồn và khát vọng của con người. Người cách mạng bận bịu với việc quân, việc nước trong bối cảnh gian nguy của cuộc kháng chiến, theo lẽ thường, sẽ không còn tâm trạng thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên; nhưng ngược lại, tâm hồn thanh khiết, phóng túng của nhà thơ – chiến sĩ luôn rộng mở đón nhận những thanh âm tươi mới của một mùa xuân tràn đầy sức sống.
Câu 3 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Trong hai bài thơ Mộ và Nguyên tiêu, sự vận động của thời gian, của hình tượng thơ được tác giả thể hiện như thế nào? Bạn có cảm nhận gì về cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật?
Trả lời
Cả hai bài thơ đều thể hiện sự thay đổi từ ban ngày sang đêm, từ cảm giác cô đơn đến niềm tin và sức sống. Tác giả sử dụng thiên nhiên để thể hiện tâm trạng và suy nghĩ của mình, phản ánh tầm nhìn lạc quan về tương lai, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn.
- Với bài thơ Mộ:
+ Thời gian khách quan vận động từ chiều tối (qua hình ảnh chim về tổ) đến khi màn đêm buông xuống và kết thúc ở hình ảnh lò lửa; thời gian tâm trạng lại có chiều hướng khác: từ bóng tối vắng lặng (của xóm núi sơn cước) đến ánh sáng (lò lửa cháy rực) của hình ảnh cuộc sống con người rất gần gũi, thân thương,...
+ Hình tượng thơ vận động từ không gian thiên nhiên (cánh chim, chòm mây ở hai câu thơ đầu) đến khung cảnh sinh hoạt của con người (thiếu nữ xay ngô, lò lửa cháy rực ở hai câu sau).
+ Cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật: từ thiên nhiên đến con người, từ viễn cảnh đến cận cảnh, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh. Thế giới tâm hồn của con người thể hiện rõ qua việc nhà thơ luôn hướng về ánh sáng, về cuộc sống, dẫu là trong những hoàn cảnh gian khổ nhất của thân phận.
- Với bài thơ Nguyên tiêu:
+ Thời gian khách quan vận động từ buổi tối (đêm trăng rằm tháng Giêng ở câu 1) đến đêm khuya (người chiến sĩ trở về lúc nửa đêm ở câu 4); thời gian tâm trạng hoà nhịp với "hành trình” vận động của tự nhiên (vầng trăng của thiên nhiên hướng về con thuyền bàn việc quân).
+ Hình tượng thơ vận động từ không gian chỉ có sự hiện diện của thiên nhiên (trăng rằm, sông nước, bầu trời tràn đầy khí xuân ở hai câu đầu) đến khung cảnh hoà điệu giữa thiên nhiên với con người (khói sóng vắng lặng, thuyền về chở đầy trăng ngập tràn sức xuân ở hai câu kết).
+ Cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật: chủ động nắm bắt những biến chuyển cụ thể, vi tế của đời sống tạo vật; từ thiên nhiên đến con người; từ ngoại cảnh đến tâm cảnh. Tâm hồn thi nhân và phong thái người chiến sĩ được thể hiện hài hoà, tinh tế.
Câu 4 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Cả hai bài thơ đều có bút pháp hội họa đặc sắc. Bạn có đồng ý với ý kiến nhận xét này không? Vì sao?
Trả lời
Tôi đồng ý rằng cả hai bài thơ "Mộ" và "Nguyên tiêu" của Hồ Chí Minh đều thể hiện một bút pháp hội hoạ đặc sắc. Bác đã sử dụng ngôn từ như một cách để vẽ nên những bức tranh sinh động về thiên nhiên và cuộc sống con người, đầy cảm xúc.
- Thơ ca, đặc biệt là thơ ca cổ điển phương Đông, có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là với âm nhạc và hội hoạ. Nhà thơ dùng ngôn từ làm chất liệu nhưng bản thân chất liệu ngôn từ trong thơ ca đã có sẵn tính nhạc (thể hiện qua vẫn, nhịp, các biện pháp tu từ,...). Phương thức tư duy, ý niệm triết học về vũ trụ và con người của thi nhân đã xác lập một mô hình cấu trúc đặc biệt, khiến ngôn từ (thông qua các hình ảnh, hình tượng và mối quan hệ giữa chúng) có thể biểu đạt theo cách riêng để chiếm lĩnh các chiều kích không gian, hình ảnh, màu sắc,... vốn là thủ pháp cơ bản của hội hoạ. "Thi trung hữu nhạc" (trong thơ có nhạc), "“thi trung hữu hoạ" (trong thơ có hoạ) là những nhận định về bút pháp thơ ca thường thấy của các nhà phê bình đối với thơ ca cổ điển phương Đông, đặc biệt là thơ ca theo/ chịu ảnh hưởng của bút pháp Đường thi.
+ Ở bài thơ Mộ, cần chú ý thủ pháp đối lập giữa cái (hình ảnh) hữu hạn và vô hạn (cánh chim đơn lẻ và khung cảnh trời chiều, chòm mây cô đơn và không gian rộng lớn); thủ pháp "điểm nhãn” thể hiện qua việc tô đậm hình ảnh thiếu nữ và lò than cháy rực trong khung cảnh đêm tối miền sơn cước;...
+ Ở bài thơ Nguyên tiêu, cần chú ý bút pháp tạo hình trong miêu tả bức tranh thiên nhiên (thiên nhiên mùa xuân được nhìn từ cận cảnh đến viễn cảnh, có tầng bậc ở câu thơ thứ hai); thủ pháp "hư – thực" thể hiện qua cặp hình ảnh khói sóng hư ảo và con thuyền bàn việc quân ở câu thơ thứ ba; nghệ thuật đặc tả hình ảnh ánh trăng tràn đầy con thuyền ở câu thơ thứ tư...
Câu 5 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Đối chiếu các bản dịch thơ với nguyên văn của mỗi bài thơ (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó chỉ ra những chỗ các bản dịch thơ có thể chưa diễn đạt hết sắc thái và ý nghĩa của nguyên văn.
Trả lời
Trong quá trình dịch thơ, việc truyền tải đầy đủ sắc thái và ý nghĩa của nguyên văn là một thách thức lớn. Các bản dịch có thể không thể hiện hết được những chi tiết tinh tế, những ý niệm ẩn sau hoặc những cảm xúc sâu sắc mà nguyên tác muốn truyền đạt. Điều này có thể phát sinh do sự chênh lệch về ngôn ngữ, văn hóa, hoặc do hạn chế của từ ngữ trong quá trình dịch.
- Về bản dịch bài thơ Mộ trong SGK, có hai điểm cần đặc biệt lưu ý:
+ Các cụm từ chim mỏi và chòm mây chưa lột tả được ý nghĩa của các từ ngữ đặc tả quyện, cô trong nguyên văn, vốn là các từ biểu đạt rất sâu sắc trạng thái tâm lí của con người.
+ Từ hồng trong bản dịch thường được hiểu là màu hồng – một tính từ chỉ màu sắc; trong khi từ hồng trong nguyên văn có nghĩa là đốt cháy, thắp lên, làm cho cháy rực lên,...
- Về bản dịch bài thơ Nguyên tiêu trong SGK, có thể lưu ý một vài điểm sau đây:
+ Câu 1: Nguyên văn nhấn mạnh “thời điểm” và hình ảnh vầng trăng đạt đến độ tròn đầy (chính: vừa đúng, vừa khớp; viên: tròn trịa, viên mãn). Bản dịch tuy đảm bảo được yêu cầu "nhã", nhưng chỉ nhấn mạnh vẻ đẹp của ánh sáng, màu sắc bên ngoài.
+ Câu 2: Nguyên văn lặp lại từ xuân ba lần, với dụng ý nhấn mạnh về xuân - sắc xuân – sức xuân của sông – nước – bầu trời; từ tiếp biểu thị sự vận động nối liền – từ cận cảnh đến viễn cảnh. Bản dịch chưa thể hiện rõ điều này.
+ Câu 3: Cụm từ giữa dòng chưa biểu đạt được ý nghĩa của cụm từ yên ba thâm xứ (nơi khói sóng heo hút tĩnh lặng) trong nguyên văn.
+ Câu 4: Nguyên văn nhấn mạnh động thái trăng tràn xuống làm đầy ăm ắp con thuyền bàn việc quân; còn bản dịch nhấn mạnh về đẹp đầy tính nhạc (trăng ngân) vốn không có trong nguyên văn.
Câu 6 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Bức tranh về cuộc sống con người được miêu tả ở hai câu sau bài thơ Mộ gợi cho bạn cảm nhận gì về tâm trạng và đời sống tâm hồn của người từ – nhà thơ?
Trả lời
Hai dòng cuối của bài thơ “Mộ” miêu tả cuộc sống bình dị của người lao động, gợi lên cảm nhận về tâm trạng và triết lý sống của Hồ Chí Minh - một nhà thơ nhân dân, luôn gắn bó với cuộc sống và niềm tin vào sức mạnh và vẻ đẹp của nó.
- Bức tranh về cuộc sống con người được gợi lên từ những hình ảnh hết sức cụ thể, chân thực, thân thương: thiếu nữ mải miết với công việc xay ngô, lò lửa cháy rực giữa đêm tối. Người tù trên đường bị áp giải, mệt mỏi, mất tự do nhưng không ta thán, bi luỵ; toàn bộ thế giới tinh thần dường như hướng hẳn về những cảnh tượng, hình ảnh cuộc sống xung quanh, với tình cảm ấm áp, gần gũi.
- Trong cảnh ngộ bất thường, người tù cách mạng có tâm hồn thi nhân vẫn thung dung, tự tại; nhạy cảm nhận ra những gì vốn nhỏ bé, dễ khuất lấp trong hiện thực. Điều đó chứng tỏ nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh là con người không chỉ có bản lĩnh mà còn có đời sống tâm hồn hết sức phong phú.
Câu 7 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Hình ảnh ánh trăng đầy thuyền trong hai câu sau bài thơ Nguyên tiêu có thể đưa đến những suy nghĩ gì về mối tương quan giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ ở nhân vật trữ tình?
Trả lời
Hình ảnh ánh trăng đầy thuyền trong bài thơ “Nguyên tiêu” của Hồ Chí Minh thể hiện sự hòa quyện giữa tâm hồn nghệ sĩ và tinh thần chiến sĩ. Trong ánh trăng tròn đầy, ta thấy sự lãng mạn và ung dung của người nghệ sĩ, cũng như sự lạc quan và niềm tin vào tương lai của người chiến sĩ. Ánh trăng không chỉ soi sáng con thuyền mà còn là biểu tượng cho hành trình cách mạng, mang theo ước vọng và khát vọng vươn tới thành công.
- Nhân vật trữ tình trong bài thơ này là hiện thân đồng thời của hai tư cách trong một hình tượng: người chiến sĩ bàn việc quân, với vị thế là lãnh tụ của cuộc kháng chiến; người nghệ sĩ thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên trong tư cách một nhà thơ. Hình ảnh ánh trăng trong cả bài và đặc biệt ở hai câu kết có ý nghĩa kết nối, đồng nhất hai tư cách trên.
- Câu thơ thứ ba không xuất hiện hình ảnh ánh trăng, nhưng xác nhận tư cách người chiến sĩ bàn việc quân, việc nước; công việc mà trên thực tế, khó có thể làm xuất hiện cảm hứng thi ca. Trong khung cảnh sông nước khói sóng (ở đây, gợi liên tưởng về một không gian bí mật), "con thuyền quân sự" ở câu thơ thứ ba đã được ẩn đi để rồi đột ngột xuất hiện ở câu thơ thứ tư với một sự chuyển hoá bất ngờ. Câu thơ thứ tư, khi việc quân tạm dứt, con thuyền trở về, ánh trăng như một nhân vật thứ ba tràn xuống làm đầy thuyền. Chính ánh trăng đã biến con thuyền quân sự thành "con thuyền thơ, và đương nhiên, người chiến sĩ trở thành nhà thơ. Tứ thơ bất ngờ loé sáng trong sự giao hoà giữa con người và thiên nhiên.
- Mối tương quan hài hoà, sự "chuyển hoá" giữa hình ảnh người chiến sĩ và người nghệ sĩ ở nhân vật trữ tình được thể hiện chân thực, tự nhiên, không có sự khiên cưỡng. Bên trong con người chiến sĩ luôn thường trực một tâm hồn nhạy cảm, trong sáng của thi nhân. Điều này cũng tự nó lí giải cho khát vọng độc lập dân tộc và khát vọng tự do trong tâm hồn con người luôn đồng nhất, song hành.
Câu 8 (trang 20 sgk Ngữ văn 12 Tập 2): Chỉ ra dấu ấn của phong cách cổ điển trong mỗi tác phẩm.
Trả lời
Dấu ấn cổ điển là: nằm ở thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngôn ngữ và hình ảnh đậm chất cổ điển, ngoài ra còn sử dụng bút pháp chấm phá và tính chất trữ tình.
+ Với bài thơ Mộ, dấu ấn phong cách cổ điển biểu hiện rõ nét qua: thể thơ tứ tuyệt Đường luật, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc; thi liệu, hình ảnh – không gian – thời gian ít nhiều có yếu tố ước lệ (không – thời gian trời chiều, hình ảnh chim bay về núi,...); bút pháp đối lập (cái hữu hạn và cái vô hạn, cái hữu hình và cái vô hình,...), đặc tả nội tâm (dùng từ ngữ chỉ tâm thế tồn tại của con người để miêu tả thế giới tự nhiên);...
+ Với bài thơ Nguyên tiêu, ngoài các phương diện chung về thể thơ và ngôn ngữ như trên, có thể nhận thấy dấu ấn cổ điển qua: thi liệu, hình ảnh có tính chất ước lệ (vầng trăng, mùa xuân, sông nước, khói sóng,...), có những hình ảnh có thể quan niệm là điển cố (yên ba thâm xứ); bút pháp đồng nhất hình ảnh con người và vũ trụ; nghệ thuật chấm phá, đặc tả của hội hoa phương Đông;...
Trong bài thơ "Mộ" của Hồ Chí Minh, hình ảnh "lò than rực hồng" là biểu tượng của sự ấm áp và niềm hy vọng giữa hoàn cảnh khó khăn của ngục tù. Dù bị giam cầm, ngọn lửa từ lò than vẫn chiếu sáng, tạo ra không khí ấm áp và tình cảm, không chỉ làm tan biến bóng tối mà còn truyền đạt hy vọng và sức sống cho những tâm hồn đang chiến đấu. Điều này tượng trưng cho ý chí kiên cường và niềm tin vào tương lai tươi sáng, với ánh sáng của tự do và hạnh phúc. Trong bài thơ "Nguyên tiêu", hình ảnh trăng sáng soi lối, đẩy thuyền trở về sau buổi bàn bạc việc quân, là biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên cùng là động lực cho cuộc chiến đấu và khát vọng tự do. Trăng sáng không chỉ chiếu sáng con đường mà còn tạo ra một không gian yên bình, mang lại niềm tin và quyết tâm cho những người chiến sĩ cách mạng. Điều này thể hiện lòng kiên định và sẵn lòng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục tiêu lớn lao của dân tộc.
Trong bài thơ Mộ, hình ảnh “lò than rực hồng” là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. Sau bức tranh chiều tối nơi núi rừng với cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô lẻ, hình ảnh “lò than rực hồng” xuất hiện như điểm sáng ấm áp của bài thơ. Từ “hồng” không chỉ gợi ánh sáng, hơi ấm của bếp lửa mà còn làm bừng lên sức sống và niềm vui của con người lao động. Hình ảnh ấy giúp bức tranh thiên nhiên chuyển từ gam màu tối sang gam màu sáng, tạo nên sự vận động từ lạnh lẽo đến ấm áp, từ buồn vắng đến sự sống đời thường gần gũi. Qua đó, người đọc cảm nhận được tinh thần lạc quan và tình yêu cuộc sống của Bác dù đang trong hoàn cảnh tù đày gian khổ. Đồng thời, hình ảnh “lò than rực hồng” còn thể hiện tấm lòng nhân ái của Hồ Chí Minh khi Người luôn hướng sự quan tâm tới con người lao động bình dị. Chỉ bằng một hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi, bài thơ đã cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng: luôn vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để hướng về ánh sáng, sự sống và niềm tin vào tương lai.
Bài giảng: Mộ, Nguyên tiêu - Cô Phương Thảo (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: