(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 132 - Kết nối tri thức

Bài viết soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 132, 133, 134, 135, 136, 137 siêu ngắn gọn sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức giúp học sinh lớp 9 dễ dàng soạn văn 9.

(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 132 - Kết nối tri thức

Quảng cáo

Soạn bài: Luyện tập tổng hợp trang 132 - Cô Lê Hạnh (Giáo viên VietJack)

Phiếu học tập số 1

1. Đọc 

a. Đọc văn bản

Đọc hiểu văn bản: Bến đò trưa hè – Anh Thơ (trang 132 sgk Ngữ văn 9 Tập 2)

b. Thực hiện các yêu cầu bên dưới

* Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu hỏi 1 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Bài thơ “Bến đò trưa hè” thuộc thể thơ nào?

A. Thơ sáu chữ

B. Thơ bảy chữ

C. Thơ tám chữ

D. Thơ tự do

Trả lời

Chọn đáp án C.

Quảng cáo

Câu hỏi 2 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Những yếu tố nào giúp em nhận biết được thể thơ của bài thơ “Bến đò trưa hè”?

A. Số chữ trong các dòng thơ

B. Số khổ trong bài thơ

C. Cách ngắt nhịp của dòng thơ

D. Cách gieo vần trong bài thơ

Trả lời

Chọn đáp án A.

Câu hỏi 3 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi

A. Đảo ngữ

B. So sánh

C. Nói giảm nói tránh

D. Nhân hóa

Trả lời

Chọn đáp án D.

Quảng cáo

Câu hỏi 4 (trang 132 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Dòng nào liệt kê các từ láy được dùng trong bài thơ?

A. Rộng rãi, uể oải, vắng lặng, tăm hơi

B. Rộng rãi, uể oải, vắng lặng, vòi vọi

C. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, tăm hơi

D. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, xa xa

Trả lời

Chọn đáp án D.

Câu hỏi 5 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Dòng nào nêu đúng nội dung cảm xúc của bài thơ?

A. Cảm xúc phấn chấn trước cảnh thiên nhiên và cuộc sống.

B. Cảm xúc đượm buồn trước cảnh sắc nơi thôn dã

C. Cảm xúc bi thiết trước thiên nhiên và đời sống con người

D. Cảm xúc buồn thương trước cảnh sắc nơi thôn dã

Trả lời

Chọn đáp án B.

Quảng cáo

* Trả lời câu hỏi.

Câu 1 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Bài thơ có bố cục như thế nào?

Trả lời

- Bố cục: 3 phần tương ứng với 3 khổ thơ.

Câu 2 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Phong cảnh làng quê Việt Nam một thời được khắc họa rõ nét nhất qua những hình ảnh nào trong bài thơ?

Trả lời

- Hình ảnh: Đa ngâm rễ; Trong quán nước ẩn hàng bên giậu duối; ngồi nghe vòi vọi; Dắt ngựa chờ rong.

Câu 3 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Cảnh thiên nhiên nơi bến đò trưa hè gợi cho em ấn tượng gì?

Trả lời

- Khung cảnh làng quê thật yên bình, vắng lặng với những cảnh vật quen thuộc với mỗi người.

Câu 4 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa đặc điểm của bức tranh thiên nhiên và nhịp sống của con người trong bài thơ?

Trả lời

- Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên và nhịp sống con người trong bài thơ có mối quan hệ chặt chẽ. Vì không gian là buổi trưa hè ở bến đò, thời gian này con người đang cần nghỉ ngơi cho nên không có nhiều hoạt động ở ngoài, khiến cho cảnh vật xung quanh cũng im ắng, lặng lẽ theo.

Câu 5 (trang 133 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Tình cảm của nhà thơ đối với thiên nhiên và đời sống con người được thể hiện như thế nào trong bài thơ?

Trả lời

- Tình cảm của tác giả: tình cảm thiết tha yêu mến vẻ đẹp thiên nhiên, phong cảnh làng quê Việt Nam.

2. Viết

Câu hỏi (trang 134 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Viết đoạn văn (khoảng 10 - 15 câu) trình bày cảm nghĩ của em về bài thơ Bến đò trưa hè ở phần Đọc.

Trả lời

"Bến đò trưa hè" của Anh Thơ là một bài thơ đầy cảm xúc và sâu lắng, đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng. Từ những dòng văn đơn giản nhưng sâu lắng, tác giả đã tạo nên một bức tranh tĩnh lặng của những khoảnh khắc bên bến đò trong buổi trưa hè. Tôi cảm nhận được không khí bình yên, thanh tịnh và lưu luyến trong từng chi tiết nhỏ, nhưng cũng chứa đựng những xao xuyến, những niềm nhớ về quê hương và tuổi thơ. Bài thơ đã đưa tôi trở lại với những kí ức ngọt ngào của mùa hè ấm áp, khi tôi ngồi bên bến đò, nhìn con sông êm đềm trôi qua và cảm nhận sự yên bình trong lòng. Đồng thời, nó cũng khiến tôi suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống, về việc giữ gìn những giá trị bền vững và đẹp đẽ trong cuộc sống hiện đại. Tôi tin rằng, những tác phẩm như "Bến đò trưa hè" là những kho báu vô giá, giúp chúng ta giữ vững tinh thần và tìm thấy sự an yên giữa cuộc sống hối hả ngày nay.

3. Nói và nghe

Câu hỏi (trang 134 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Tiến hành cuộc phỏng vấn ngắn về một trong những vấn đề sau:

- Khi xa quê hương, điều gì sẽ trở thành hành trang không thể thiếu trong tâm hồn con người?

- Trở thành công dân toàn cầu trong một thế giới hội nhập và đầy biến động có làm chúng ta lãng quên truyền thống và phai nhạt bản sắc dân tộc?

- Thơ có còn sức hút bạn đọc trong thời đại công nghệ số và các phương tiện nghe – nhìn?

Trả lời

* Bài tham khảo 1:

Người phỏng vấn (PV): Chào bạn, cảm ơn bạn đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn ngắn này. Chủ đề hôm nay của chúng ta là về những người xa quê. Khi xa quê hương, theo bạn, điều gì sẽ trở thành hành trang không thể thiếu trong tâm hồn con người?

Người trả lời (TL): Chào bạn. Theo tôi, có ba điều mà tôi nghĩ là hành trang không thể thiếu.

PV: Bạn có thể chia sẻ cụ thể hơn về điều đầu tiên không?

TL: Vâng, điều đầu tiên và quan trọng nhất là ký ức về gia đình và những kỷ niệm tuổi thơ. Đó là nơi neo đậu cảm xúc, là nguồn an ủi mỗi khi ta cảm thấy cô đơn hay gặp khó khăn ở nơi đất khách. Những hình ảnh về bữa cơm gia đình, lời ru của mẹ, hay những trò chơi cùng bạn bè thuở nhỏ sẽ luôn hiện hữu và tiếp thêm sức mạnh.

PV: Rất ý nghĩa. Vậy điều thứ hai là gì, thưa bạn?

TL: Điều thứ hai chính là văn hóa và truyền thống quê hương. Dù ở bất cứ đâu, việc giữ gìn và tự hào về những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của mình sẽ giúp ta không bị hòa tan, đánh mất bản sắc. Đó có thể là món ăn mẹ nấu, câu hát dân ca, hay những lễ hội truyền thống. Nó nhắc nhở ta là ai và đến từ đâu.

PV: Hoàn toàn đồng ý. Và điều cuối cùng, điều thứ ba mà bạn muốn nhắc đến là gì?

TL: Cuối cùng, tôi nghĩ đó là tình yêu và niềm hy vọng vào một ngày trở về. Dù có thể không trở về hẳn, nhưng niềm hy vọng được thăm lại quê nhà, được gặp lại người thân là động lực to lớn giúp ta vượt qua mọi thử thách. Tình yêu quê hương là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn, thúc đẩy ta phấn đấu để có thể mang những điều tốt đẹp nhất về xây dựng quê hương.

PV: Cảm ơn bạn rất nhiều vì những chia sẻ sâu sắc và chân thành. Đó thực sự là những hành trang vô giá.

TL: Không có gì. Cảm ơn bạn.

* Bài tham khảo 2:

CHỦ ĐỀ PHỎNG VẤN: Công dân toàn cầu – Giữ gìn bản sắc dân tộc

NGƯỜI PHỎNG VẤN (PV): Chào bạn, rất vui được trò chuyện với bạn hôm nay.

NGƯỜI TRẢ LỜI (TL): Chào bạn, tôi cũng rất vui được tham gia.

PV: Đầu tiên, theo bạn, "công dân toàn cầu" có nghĩa là gì?

TL: Theo tôi, "công dân toàn cầu" là người có kiến thức, thái độ và kỹ năng để tương tác hiệu quả trong một thế giới đa văn hóa, hiểu biết các vấn đề toàn cầu và có trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển chung.

PV: Việc trở thành công dân toàn cầu có làm chúng ta lãng quên truyền thống và phai nhạt bản sắc dân tộc không?

TL: Cá nhân tôi nghĩ là không nhất thiết. Việc trở thành công dân toàn cầu không đồng nghĩa với việc từ bỏ bản sắc. Ngược lại, nó có thể là cơ hội để chúng ta hiểu và trân trọng bản sắc của mình hơn.

PV: Nhưng làm thế nào để vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay?

TL: Tôi nghĩ điều quan trọng là ý thức và sự chủ động. Chúng ta cần chủ động tìm hiểu, học hỏi và thực hành các giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc mình. Đồng thời, chúng ta cũng cần có tư duy cởi mở để tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách chọn lọc.

PV: Bạn có lo ngại về việc giới trẻ hiện nay quá chạy theo các xu hướng toàn cầu mà bỏ quên giá trị truyền thống không?

TL: Tôi có một chút lo lắng. Tuy nhiên, tôi tin rằng giới trẻ ngày nay cũng rất thông minh và có khả năng tự điều chỉnh. Điều quan trọng là gia đình, nhà trường và xã hội cần tạo môi trường và định hướng đúng đắn để các bạn trẻ nhận ra giá trị của truyền thống.

PV: Vậy theo bạn, vai trò của giáo dục trong việc dung hòa hai yếu tố này là gì?

TL: Giáo dục đóng vai trò cốt lõi. Cần dạy cho học sinh không chỉ kiến thức toàn cầu mà còn cả lịch sử, văn hóa, và lòng tự hào dân tộc. Giáo dục phải giúp các em thấy được bản sắc là một phần quan trọng làm nên con người mình.

PV: Cảm ơn bạn rất nhiều vì những chia sẻ thẳng thắn và sâu sắc.

TL: Cảm ơn bạn đã mời tôi!

* Bài tham khảo 3:

CUỘC PHỎNG VẤN NGẮN: THƠ TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ SỐ

PV: Chào bạn. Cảm ơn bạn đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn nhanh này. Câu hỏi đầu tiên của tôi là: Theo bạn, thơ có còn là một loại hình nghệ thuật phổ biến, được nhiều người tìm đọc trong thời đại công nghệ số hiện nay không?

TL: Chào bạn. Tôi nghĩ rằng có, nhưng theo một cách khác. Thơ có thể không còn phổ biến như truyện hay video giải trí, nhưng vẫn có một lượng độc giả nhất định tìm đến nó, đặc biệt là trên các nền tảng số.

PV: Bạn có thể nói rõ hơn về "cách khác" mà bạn vừa đề cập không? Thơ được tiếp cận như thế nào trên không gian mạng?

TL: Trên mạng xã hội, thơ được tiếp cận dưới dạng những bài thơ ngắn, dễ đọc, dễ chia sẻ, thường đi kèm hình ảnh hoặc video minh họa. Các bạn trẻ cũng thích những bài thơ mang tính tự sự, thể hiện cảm xúc cá nhân.

PV: Vậy theo bạn, đâu là yếu tố giúp thơ vẫn giữ được sức hút trong bối cảnh các phương tiện nghe – nhìn đang lên ngôi?

TL: Tôi nghĩ đó là khả năng chạm đến cảm xúc sâu sắctính cô đọng, súc tích. Trong thế giới ồn ào, vội vã, thơ mang lại một khoảng lặng để con người suy tư, cảm nhận. Hơn nữa, nó giúp người đọc diễn tả những điều khó nói bằng lời thường.

PV: Các nền tảng số đã tác động tích cực hay tiêu cực đến việc phổ biến thơ?

TL: Tôi nghĩ là tác động tích cực nhiều hơn. Các nền tảng số giúp thơ tiếp cận được nhiều đối tượng hơn, đặc biệt là giới trẻ. Nhiều nhà thơ trẻ cũng có cơ hội thể hiện tài năng và tìm thấy độc giả của mình dễ dàng hơn. Tuy nhiên, cũng có một số thách thức về chất lượng và sự lan truyền của thơ "mì ăn liền".

PV: Cuối cùng, bạn có nghĩ rằng thơ sẽ tiếp tục phát triển và thích nghi với các xu hướng công nghệ mới trong tương lai không?

TL: Chắc chắn rồi. Tôi tin rằng thơ sẽ luôn tìm được cách để tồn tại và phát triển. Có thể sẽ có những hình thức thơ mới ra đời, kết hợp với công nghệ thực tế ảo hay trí tuệ nhân tạo chẳng hạn. Điều quan trọng là giá trị cốt lõi của thơ – vẻ đẹp ngôn ngữ và khả năng lay động lòng người – sẽ không bao giờ mất đi.

PV: Cảm ơn bạn rất nhiều vì những chia sẻ thú vị!

TL: Không có gì!

Phiếu học tập số 2

1. Đọc 

a. Đọc văn bản

Đọc văn bản: Quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em trong hoà bình - Ma-la-la Y-u-xa-phơ-dây (Malala Yousafzal) (trang 134 sgk Ngữ văn 9 Tập 2)

b. Thực hiện các yêu cầu bên dưới

* Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Xác định loại văn bản của bài đọc.

A. Văn bản thông tin

B. Văn bản nghị luận

C. Văn bản văn học

Trả lời

Chọn đáp án B.

Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Vấn đề chính mà bài phát biểu đề cập đến là gì?

A. Quyền con người của cả nam và nữ nói chung

B. Quyền bình đẳng về cơ hội của phụ nữ trong các lĩnh vực

C. Quyền được sống trong hòa bình của mọi người

D. Quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em trong hòa bình

Trả lời

Chọn đáp án D.

Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Người trình bày vấn đề xác định tư cách, vị thế nào để nêu ý kiến?

A. Một cá nhân vị xâm phạm nhân quyền cần cất lên tiếng nói của mình.

B. Một người đại diện cho tất cả những người cần được bảo vệ nhân quyền.

C. Một người phụ nữ bị áp bức, bị tước đoạt quyền học tập cần bảo vệ chính mình.

D. Một người dân Pa-ki-xtan bị xâm phạm nhân quyền, cần đấu tranh.

Trả lời

Chọn đáp án B.

Câu 4 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Mục đích chính của người nói được thể hiện trong đoạn trích trên là gì?

A. Nêu rõ trước Liên hợp quốc vấn đề vi phạm nhân quyền với phụ nữ và trẻ em và sự cần thiết phải hành động để bảo vệ những quyền đó.

B. Trình bày rõ vấn đề quyền được học tập của phụ nữ và trẻ em đang bị xâm phạm, kêu gọi hành động để bảo vệ quyền đó.

C. Kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới và Liên hợp quốc hành động, thay đổi chính sách vì quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em.

D. Tố cáo thực trạng xâm phạm quyền học tập và quyền sống của phụ nữ và trẻ em ở các nước chậm phát triển trên thế giới.

Trả lời

Chọn đáp án C.

Câu 5 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Xác định biện pháp tu từ thể hiện ở các từ in đậm trong câu “Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng”.

A. So sánh

B. Hoán dụ

C. Nhân hóa

D. Ẩn dụ

Trả lời

Chọn đáp án D.

* Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Đối tượng hướng tới để tác động của văn bản là những người hoặc tổ chức nào?

Trả lời

- Đối tượng hướng tới để tác động của văn bản là các nhà lãnh đạo thế giới và Liên Hợp quốc.

Câu 2 (trang 137 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Người trình bày đã dùng những yếu tố nào để nêu thông tin khách quan, bày tỏ ý kiến và tác động tới đối tượng cần thuyết phục?

Trả lời

- Người trình bày đã dùng những yếu tố lí lẽ và bằng chứng để nêu thông tin khách quan, bày tỏ ý kiến và tác động tới đối tượng cần thuyết phục:

+ Thực trạng khủng bố đã xảy ra với chính người phát biểu và với những người dân thường ở Pa-ki-xtan và một số nước khác trên thế giới: “những kẻ khủng bố đã bắn vào bên trái trán tôi”, “họ cũng bắn vào các bạn tôi”, “họ đã giết 14 sinh viên trường y vô tội”, “họ giết hại nhiều nữ giáo viên và các nhân viên tiêm vắc-xin sởi ở Khi-bơ Pa-khun-khơ-ta-va”,…

+ Hậu trả nghiêm trọng của nạn khủng bố đối với phụ nữ và trẻ em: “Nghèo đói, thiếu tri thức, bị đối xử bất công và bị tước đoạt các quyền con người cơ bản là những vấn nạn chính mà cả nam giới và phụ nữ phải đối mặt.”.

+ Người phát biểu bày tỏ trực tiếp cảm xúc, thái độ, quan điểm với thực trạng và hậu quả nói trên: “Tôi không chỉ nói cho riêng mình mà còn cho cả những người không được lên tiếng. Họ cần được lắng nghe.”; “Nhưng không có gì thay đổi trong cuộc sống của tôi, ngoại trừ một điểu: sự yếu đuối. sợ hãi và tuyệt vọng đã không còn tồn tại trong tôi.”…

Câu 3 (trang 137 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Vấn đề cần được trình bày được triển khai trong các phần của văn bản như thế nào? Nêu rõ mục đích và ý chính của từng phần.

Trả lời

- Triển khai trong các phần:

+ Phần 1: Đưa ra vấn đề về nhân quyền.

+ Phần 2: Tiếng nói không chỉ đại diện của nhân vật tôi mà còn của rất nhiều người khác.

+ Phần 3: Những minh chứng cụ thể của việc nhân quyền đang không được đảm bảo.

+ Phần 4: Kêu gọi mọi người đấu tranh và những người lãnh đạo cần quan tâm và bảo vệ.

Câu 4 (trang 137 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Trong phần 3 của văn bản, tác giả cho rằng “Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng”. Theo em vấn đề này được nêu như vậy là đúng hay sai? Vì sao?

Trả lời

- Theo em, vấn đề này hoàn toàn đúng.

- Vì nếu như chúng ta luôn sống trong hòa bình, yên ổn (ánh sáng) chúng ta sẽ không biết quý trọng giữ gìn nó, nhưng đến khi chiến tranh kéo tới, con người phải sống trong bất ổn, sợ hãi (bóng tối) chúng ta mới nhận ra việc hòa bình, ổn định quan trọng tới mức nào. Lúc đó chúng ta mới quý trọng thứ “ánh sáng” đó.

2. Viết

Câu hỏi (trang 1 sgk 37 Ngữ văn lớp 9 Tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống): Lựa chọn một trong những vấn đề sau để viết bài văn nghị luận xã hội:

- Việc học tập có thực sự cần thiết và có thể đem lại những lợi ích gì cho cuộc sống của mỗi trẻ em trên thế giới?

- Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?

Trả lời

* Bài tham khảo 1: Viết bài văn nghị luận về việc học tập có thực sự cần thiết và đem lại những lợi ích nào cho cuộc sống của mỗi trẻ em trên thế giới?

Học tập là một hành trình không ngừng nghỉ và là yếu tố then chốt cho sự phát triển toàn diện của mỗi đứa trẻ trên thế giới. Nó không chỉ là việc tiếp thu kiến thức khô khan mà còn là quá trình trang bị hành trang vững chắc để các em tự tin bước vào đời, đóng góp cho xã hội.

Thứ nhất, học tập giúp trẻ em phát triển trí tuệ và tư duy. Thông qua các môn học, trẻ được rèn luyện khả năng phân tích, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và phản biện. Điều này không chỉ cung cấp kiến thức nền tảng mà còn hình thành những kỹ năng nhận thức quan trọng, giúp các em khám phá thế giới xung quanh một cách sâu sắc hơn.

Thứ hai, việc học tập góp phần nuôi dưỡng nhân cách và phát triển kỹ năng xã hội ở trẻ. Trường học không chỉ là nơi học kiến thức mà còn là môi trường để trẻ tương tác, giao tiếp với bạn bè và thầy cô. Tại đây, các em học cách làm việc nhóm, thảo luận, giải quyết mâu thuẫn, từ đó rèn luyện sự tự tin, kỷ luật và ý thức tự giác. Những kỹ năng này là nền tảng để trẻ trở thành người tử tế, biết yêu thương, thấu hiểu và có trách nhiệm với cộng đồng.

Thứ ba, học tập chuẩn bị cho trẻ một tương lai rộng mở và vững chắc. Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng, kiến thức và kỹ năng là chìa khóa để thích nghi và thành công. Giáo dục trang bị cho trẻ em những công cụ cần thiết để có nghề nghiệp ổn định, sống độc lập và tự do, đồng thời có khả năng cống hiến cho xã hội. Mặc dù việc học có thể đôi khi gây áp lực, nhưng những "khó khăn" đó không là gì so với cuộc sống vất vả nếu không có nền tảng học vấn vững chắc.

Tóm lại, học tập là quyền cơ bản và thiết yếu của mọi trẻ em. Nó không chỉ mang lại lợi ích về kiến thức, kỹ năng mà còn định hình nhân cách, giúp trẻ em phát triển toàn diện, sẵn sàng đối mặt với thử thách và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và xã hội.

* Bài tham khảo 2: Viết bài văn nghị luận về việc vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?

Trẻ em là mầm non của đất nước, là tương lai của nhân loại. Vì lẽ đó, việc mọi trẻ em trên thế giới đều được bảo vệ và học tập trong hòa bình là một điều vô cùng cần thiết và cấp bách. Đây không chỉ là quyền cơ bản của mỗi đứa trẻ mà còn là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững.

Trước hết, quyền được bảo vệ là một trong bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ em, bao gồm quyền được sống, được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Trong môi trường hòa bình, trẻ em được an toàn khỏi những hiểm nguy, bạo lực, bóc lột và chiến tranh. Ngược lại, chiến tranh và xung đột vũ trang gây ra những hậu quả tàn khốc, cướp đi sinh mạng, khiến hàng triệu trẻ em phải di dời, chịu đựng thương vong, suy dinh dưỡng, bệnh tật và sang chấn tâm lý. Những đứa trẻ lớn lên trong vùng chiến sự thường mất đi tuổi thơ, phải đối mặt với nỗi sợ hãi triền miên và bị tước mất cơ hội phát triển bình thường.

Thứ hai, quyền được học tập trong hòa bình là chìa khóa mở ra tương lai tươi sáng cho mỗi đứa trẻ và cả xã hội. Giáo dục giúp trẻ em phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội, trang bị kiến thức, kỹ năng để các em trở thành những công dân có ích. Khi được học tập trong môi trường ổn định, không có chiến tranh, trẻ em có cơ hội tiếp cận nền giáo dục chất lượng, phát huy tối đa tiềm năng của bản thân. Ngược lại, xung đột vũ trang phá hủy trường học, gián đoạn việc học, khiến hàng triệu trẻ em không thể đến trường và bị tước đoạt tương lai.

Tóm lại, bảo vệ và học tập trong hòa bình không chỉ là nhu cầu cấp thiết mà còn là quyền thiêng liêng của mọi trẻ em. Việc đảm bảo các quyền này cho trẻ em là trách nhiệm chung của gia đình, nhà nước và cộng đồng quốc tế. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể nuôi dưỡng một thế hệ tương lai khỏe mạnh, trí tuệ, có khả năng xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi hòa bình là giá trị bền vững và phổ quát.

3. Nói và nghe

Câu hỏi (trang 137 sgk Ngữ văn 9 Tập 2): Thảo luận với các bạn trong nhóm học tập về một trong những vấn đề sau:

- Giáo dục có thể góp phần làm thay đổi cuộc sống của mỗi người như thế nào?

- Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?

Trả lời

* Bài tham khảo 1: Thảo luận với các bạn trong nhóm về vấn đề: Giáo dục có thực sự làm thay đổi cuộc sống của mỗi con người?

Bạn A (Mở đầu): Theo mình, giáo dục chắc chắn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thay đổi cuộc sống của mỗi người. Nó cung cấp kiến thức, kỹ năng, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn, có nhiều cơ hội hơn trong công việc và cuộc sống. Ví dụ, nhờ học hành, chúng ta có thể có một công việc tốt, thu nhập ổn định hơn.

Bạn B: Mình đồng ý với Bạn A. Giáo dục không chỉ là kiến thức sách vở mà còn là rèn luyện nhân cách, đạo đức. Một người được giáo dục tốt sẽ biết cách đối nhân xử thế, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Điều đó sẽ giúp họ có một cuộc sống văn minh, hạnh phúc hơn.

Bạn C: Mình thấy giáo dục còn giúp con người thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường và xã hội. Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay, việc được giáo dục sẽ giúp chúng ta tiếp cận cái mới, không bị tụt hậu. Nó còn khơi dậy khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề nữa.

Bạn D: Tuy nhiên, mình nghĩ cũng cần nhìn nhận thực tế là không phải ai được giáo dục cũng đều có cuộc sống thay đổi hoàn toàn như mong đợi. Có những yếu tố khác như hoàn cảnh gia đình, môi trường xã hội, hay thậm chí là may mắn cũng ảnh hưởng rất nhiều. Đôi khi, niềm tin vào giáo dục như một con đường thay đổi số phận đang dần suy giảm ở một số nơi.

Bạn A: Đúng là có nhiều yếu tố tác động, nhưng giáo dục vẫn là nền tảng cốt lõi. Ngay cả khi gặp khó khăn, một người có nền tảng giáo dục tốt sẽ có khả năng vượt qua và tìm kiếm cơ hội tốt hơn. Giáo dục trang bị cho chúng ta "công cụ" để tự lập, tự tin và định hướng cuộc đời mình.

Bạn B: Chính xác. Giáo dục còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh và về chính mình, từ đó đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn cho cuộc đời. Nó là một quá trình liên tục, không ngừng nghỉ.

Bạn C: Tóm lại, mình nghĩ giáo dục là yếu tố chủ đạo, có sức mạnh thay đổi cuộc sống mỗi người theo hướng tích cực, từ kiến thức, kỹ năng đến đạo đức và nhân cách. Mặc dù có những yếu tố khác, nhưng giáo dục vẫn là nền tảng vững chắc để con người phát triển và hoàn thiện bản thân.

* Bài tham khảo 2: Thảo luận với các bạn trong nhóm về vấn đề: Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?

Chủ đề thảo luận: Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hòa bình?

Người chủ trì: An Các bạn tham gia: Bình, Chi, Dũng

An (Chủ trì): Chào các bạn, hôm nay chúng ta sẽ cùng thảo luận về một vấn đề rất quan trọng và nhân văn: "Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hòa bình?". Đây là một câu hỏi mà mình nghĩ ai trong chúng ta cũng có thể cảm nhận được tầm quan trọng của nó. Để bắt đầu, mời các bạn chia sẻ suy nghĩ đầu tiên của mình về câu hỏi này. Bình, bạn có muốn bắt đầu không?

Bình: Cảm ơn An. Theo mình, lý do đầu tiên và quan trọng nhất là vì trẻ em là tương lai của nhân loại. Một đứa trẻ được lớn lên trong hòa bình, được học hành đầy đủ sẽ có cơ hội phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Khi đó, các em mới có thể trở thành những công dân tốt, đóng góp tích cực cho xã hội sau này. Ngược lại, nếu sống trong chiến tranh, bạo lực, các em sẽ bị tước đoạt mất tương lai, mất đi cơ hội để phát triển.

Chi: Mình hoàn toàn đồng ý với Bình. Hơn nữa, mình nghĩ rằng trẻ em là những đối tượng rất dễ bị tổn thương. Trong các cuộc xung đột, chiến tranh, trẻ em thường là nạn nhân đầu tiên và chịu hậu quả nặng nề nhất. Các em có thể mất đi gia đình, mất nhà cửa, bị thương tật, hoặc phải chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng, gây ra những vết sẹo tâm lý sâu sắc mà có khi cả đời không thể lành. Việc bảo vệ các em khỏi những điều này là trách nhiệm của toàn xã hội.

Dũng: Mình muốn bổ sung thêm một khía cạnh khác. Việc học tập trong hòa bình không chỉ giúp trẻ em phát triển cá nhân mà còn là nền tảng để xây dựng một thế giới hòa bình bền vững hơn. Khi được giáo dục tốt, các em sẽ hiểu biết hơn về thế giới, về các nền văn hóa khác nhau, từ đó sẽ có lòng khoan dung, thấu hiểu và biết cách giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, thay vì dùng bạo lực. Chính những thế hệ được giáo dục trong hòa bình sẽ là người ngăn chặn chiến tranh trong tương lai.

An (Chủ trì): Các ý kiến của Bình, Chi và Dũng đều rất sâu sắc và đúng trọng tâm. Bình nhấn mạnh vai trò của trẻ em là tương lai, Chi chỉ ra tính dễ bị tổn thương của các em, còn Dũng thì đề cập đến vai trò của giáo dục trong hòa bình để tạo ra một thế giới bền vững hơn.

Bài giảng: Luyện tập tổng hợp trang 132 - Cô Nguyễn Hoa (Giáo viên VietJack)

Xem thêm các bài Soạn văn lớp 9 Kết nối tri thức siêu ngắn, hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 9 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức siêu ngắn của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 (NXB Giáo dục).

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 Kết nối tri thức khác