Phân biệt các hình thức đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích, phối hợp (bài tập có giải chi tiết)
Bài viết Phân biệt các hình thức đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích, phối hợp với bài tập có lời giải chi tiết nhất giúp học sinh nắm vững sự khác nhau giữa các hình thức đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích, phối hợp. Mời các bạn đón đọc:
Phân biệt các hình thức đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích, phối hợp (bài tập có giải chi tiết)
I. Hình thức đoạn văn diễn dịch là gì?
1. Khái niệm:
- Đoạn văn diễn dịch là đoạn văn được triển khai theo lối từ khái quát đến cụ thể, trong đó: câu chủ đề đứng ở đầu đoạn, nêu ý chính, ý bao quát của toàn đoạn, các câu còn lại là câu triển khai, có nhiệm vụ giải thích, chứng minh, phân tích, làm rõ nội dung câu chủ đề.
2. Ví dụ về hình thức đoạn văn diễn dịch:
- Ví dụ 1 (đoạn văn nghị luận): Đọc sách có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển tư duy của con người. Nhờ đọc sách, chúng ta có thể tiếp cận kho tàng tri thức phong phú của nhân loại. Sách còn giúp mở rộng vốn hiểu biết về khoa học, lịch sử, văn hóa và đời sống. Qua việc suy ngẫm những điều đọc được, con người rèn luyện khả năng tư duy logic và óc phê phán.
+ Câu đầu: Câu chủ đề (ý khái quát)
+ Các câu sau: Triển khai – làm rõ vai trò của đọc sách
- Ví dụ 2 (đoạn văn miêu tả – biểu cảm): Mẹ là người có ảnh hưởng lớn nhất đến tuổi thơ của em. Mỗi buổi sáng, mẹ đều dậy sớm chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình. Khi em gặp khó khăn trong học tập, mẹ luôn kiên nhẫn động viên và giúp đỡ. Tình yêu thương thầm lặng của mẹ đã nuôi dưỡng em khôn lớn từng ngày.
-> Đoạn văn vẫn theo lối diễn dịch dù không phải nghị luận.
3. Phân loại:
Có thể phân loại đoạn văn diễn dịch theo mục đích biểu đạt và cách triển khai nội dung:
- Phân loại theo mục đích biểu đạt:
+ Đoạn văn diễn dịch nghị luận: Câu chủ đề nêu luận điểm, các câu sau đưa ra lí lẽ, dẫn chứng. Ví dụ: Tinh thần tự học là yếu tố quyết định sự thành công của mỗi người. Người có tinh thần tự học luôn chủ động tìm tòi, khám phá tri thức mới. Họ không phụ thuộc hoàn toàn vào thầy cô hay sách giáo khoa. Nhờ đó, khả năng tư duy và sáng tạo ngày càng được nâng cao.
+ Đoạn văn diễn dịch tự sự: Câu chủ đề nêu sự việc chính, các câu sau kể lại diễn biến, chi tiết cụ thể
+ Đoạn văn diễn dịch miêu tả / biểu cảm: Câu chủ đề nêu ấn tượng chung, các câu sau miêu tả, bộc lộ cảm xúc cụ thể
- Phân loại theo cách triển khai nội dung
+ Diễn dịch thuần túy: Câu chủ đề rõ ràng, trực tiếp, các câu sau chỉ làm nhiệm vụ triển khai.
+ Diễn dịch kết hợp: Câu chủ đề đứng đầu, có thể kết hợp: Phép liệt kê, phép so sánh, phép nêu ví dụ, phép giải thích
Ví dụ: Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng sống quan trọng nhất. Trong học tập, giao tiếp tốt giúp học sinh mạnh dạn trao đổi ý kiến với thầy cô và bạn bè. Trong cuộc sống, giao tiếp hiệu quả giúp con người xây dựng các mối quan hệ tích cực và bền vững.
II. Hình thức đoạn văn quy nạp là gì?
1. Khái niệm:
- Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được triển khai theo lối từ cụ thể đến khái quát, trong đó: Các câu đứng đầu đoạn và giữa đoạn nêu những ý cụ thể, dẫn chứng, hiện tượng; câu chủ đề đứng ở cuối đoạn, có nhiệm vụ khái quát, tổng kết, rút ra nhận xét chung từ các ý đã trình bày.
2. Ví dụ về hình thức đoạn văn quy nạp:
- Ví dụ 1 (đoạn văn nghị luận): Nhờ đọc sách, con người có thể tiếp cận kho tàng tri thức phong phú của nhân loại. Sách giúp ta hiểu biết sâu hơn về lịch sử, khoa học và đời sống. Qua việc suy ngẫm những điều đã đọc, tư duy logic và khả năng phản biện cũng được rèn luyện. Vì vậy, đọc sách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển trí tuệ của con người.
+ Các câu đầu: nêu tác dụng cụ thể của đọc sách
+ Câu cuối (in nghiêng): câu chủ đề – ý khái quát
- Ví dụ 2 (đoạn văn miêu tả – biểu cảm): Mỗi buổi sáng, mẹ đều dậy sớm chuẩn bị bữa ăn cho gia đình. Khi em gặp khó khăn trong học tập, mẹ luôn kiên nhẫn lắng nghe và động viên. Những lúc em buồn, mẹ là người ở bên an ủi, chia sẻ. Bởi thế, mẹ chính là điểm tựa yêu thương vững chắc nhất trong cuộc đời em. -> Câu cuối khái quát tình cảm và vai trò của mẹ.
3. Phân loại:
Có thể phân loại đoạn văn quy nạp theo mục đích biểu đạt và cách triển khai nội dung:
- Phân loại theo mục đích biểu đạt
+ Đoạn văn quy nạp nghị luận: Các câu đầu: lí lẽ, dẫn chứng; câu cuối: luận điểm
Ví dụ: Học sinh cần tự giác hoàn thành bài tập ở nhà. Việc chuẩn bị bài giúp các em nắm chắc kiến thức trước khi đến lớp. Thói quen này còn rèn luyện tinh thần trách nhiệm và khả năng tự học. Do đó, tự giác trong học tập là yếu tố quan trọng giúp học sinh tiến bộ.
+ Đoạn văn quy nạp tự sự: Kể các sự việc, chi tiết, cuối đoạn rút ra ý nghĩa, nhận xét
+ Đoạn văn quy nạp miêu tả / biểu cảm: Miêu tả cảm xúc, hình ảnh cụ thể, câu cuối bộc lộ ấn tượng, tình cảm chung
- Phân loại theo cách triển khai nội dung:
+ Quy nạp thuần túy: câu chủ đề chỉ xuất hiện ở cuối đoạn, không nhắc lại ý khái quát ở đầu.
+ Quy nạp có tín hiệu tổng kết: Câu cuối có từ ngữ báo hiệu như: Vì vậy, do đó, bởi thế, tóm lại, suy cho cùng,…
Ví dụ: Trên lớp, bạn luôn chăm chú lắng nghe bài giảng. Khi làm việc nhóm, bạn tích cực đóng góp ý kiến. Ngoài giờ học, bạn còn chủ động tìm tòi tài liệu. Tóm lại, bạn là một học sinh có tinh thần học tập rất nghiêm túc.
III. Hình thức đoạn văn song song là gì?
1. Khái niệm:
- Đoạn văn song song là đoạn văn trong đó các câu trong đoạn có vị trí, vai trò ngang bằng nhau, không có câu nào giữ vai trò bao quát toàn bộ đoạn. Mỗi câu triển khai một khía cạnh, một ý của cùng một chủ đề chung. Các câu được sắp xếp liền kề, song hành, không theo trình tự từ khái quát → cụ thể (diễn dịch) hay từ cụ thể → khái quát (quy nạp).
2. Ví dụ về hình thức đoạn văn song song:
- Ví dụ 1 (đoạn văn nghị luận): Đọc sách giúp con người mở rộng tri thức. Đọc sách rèn luyện khả năng tư duy logic. Đọc sách bồi dưỡng đời sống tâm hồn. Đọc sách góp phần hình thành nhân cách con người.
+ Các câu đều bắt đầu bằng cụm từ “Đọc sách…”
+ Mỗi câu nêu một tác dụng khác nhau, ngang hàng về ý nghĩa
+ Không có câu tổng quát chung → đoạn song song
- Ví dụ 2 (đoạn văn miêu tả): Buổi sáng, sân trường rộn ràng tiếng nói cười. Buổi trưa, sân trường lặng im trong nắng. Buổi chiều, sân trường lại nhộn nhịp bước chân học sinh tan học. → Mỗi câu là một nét miêu tả riêng, cùng hướng tới hình ảnh sân trường.
3. Phân loại:
Có thể phân loại đoạn văn song song theo cách tổ chức câu và mục đích biểu đạt:
- Phân loại theo cách tổ chức câu
+ Song song hoàn toàn: Các câu có cấu trúc ngữ pháp tương tự, cách diễn đạt gần giống nhau. Ví dụ: Học sinh cần trung thực trong học tập. Học sinh cần tự giác trong rèn luyện. Học sinh cần trách nhiệm với bản thân.
+ Song song không hoàn toàn: Các câu vẫn ngang hàng về ý nhưng cấu trúc câu không giống hệt nhau. Ví dụ: Học sinh phải biết tôn trọng thầy cô. Việc giữ gìn kỉ luật lớp học là điều cần thiết. Mỗi bạn cần có ý thức xây dựng tập thể.
- Phân loại theo mục đích biểu đạt:
+ Đoạn văn song song nghị luận: Mỗi câu nêu một luận cứ, luận điểm nhỏ
+ Đoạn văn song song tự sự: Các sự việc diễn ra độc lập, cùng hướng về một chủ đề.
+ Đoạn văn song song miêu tả / biểu cảm: Mỗi câu là một chi tiết, cảm xúc riêng biệt
IV. Hình thức đoạn văn móc xích là gì?
1. Khái niệm:
- Đoạn văn móc xích là đoạn văn trong đó các câu được liên kết với nhau theo kiểu “móc nối”, ý của câu đứng trước trở thành điểm xuất phát cho câu đứng sau. Mỗi câu vừa kế thừa nội dung của câu trước, vừa phát triển thêm một ý mới. Toàn bộ đoạn văn được triển khai theo trình tự logic liên tục, giống như các mắt xích nối tiếp nhau trong một sợi dây.
2. Ví dụ về hình thức đoạn văn móc xích:
- Ví dụ 1 (đoạn văn nghị luận): Đọc sách giúp con người mở rộng hiểu biết. Hiểu biết ấy làm cho con người thêm tự tin trong học tập và giao tiếp. Sự tự tin giúp mỗi người chủ động hơn trong việc thể hiện bản thân. Chính vì thế, đọc sách có vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của con người.
+ “Hiểu biết” → lặp và phát triển thành “sự tự tin”
+ “Sự tự tin” → dẫn đến “chủ động”
+ Các ý nối tiếp – phát triển dần
- Ví dụ 2 (đoạn văn tự sự – biểu cảm): Mỗi buổi sáng, bà thường ra vườn chăm cây. Khu vườn nhỏ ấy gắn liền với tuổi thơ tôi. Tuổi thơ là những kỉ niệm êm đềm bên bà. Những kỉ niệm ấy theo tôi suốt những năm tháng trưởng thành. → Từ ngữ cuối câu trước được nhắc lại ở đầu hoặc giữa câu sau → móc xích rõ rệt.
3. Phân loại:
Có thể phân loại đoạn văn móc xích theo cách móc nối ý và mục đích biểu đạt:
- Phân loại theo cách móc nối ý:
+ Móc xích bằng lặp từ / lặp ý: Từ ngữ hoặc ý quan trọng được lặp lại để tạo liên kết. Ví dụ: Việc đọc sách giúp con người tích lũy tri thức. Tri thức là nền tảng để con người phát triển tư duy.
+ Móc xích bằng thế (đại từ, từ thay thế): Dùng các từ: đó, ấy, này, việc đó, điều này,… để nối ý. Ví dụ: Lan đạt kết quả cao trong kì thi học sinh giỏi. Điều đó khiến cả lớp rất tự hào.
+ Móc xích bằng quan hệ nguyên nhân – kết quả / điều kiện – hệ quả: Ý sau phát sinh từ ý trước. Ví dụ: Trời mưa lớn suốt nhiều ngày. Vì thế, nước sông dâng cao nhanh chóng.
- Phân loại theo mục đích biểu đạt:
+ Đoạn văn móc xích nghị luận: Các luận cứ nối tiếp nhau, tăng dần sức thuyết phục.
+ Đoạn văn móc xích tự sự: Sự việc xảy ra theo trình tự logic, liên hoàn.
+ Đoạn văn móc xích miêu tả / biểu cảm: Cảm xúc, hình ảnh phát triển theo dòng hồi tưởng hoặc quan sát
V. Hình thức đoạn văn phối hợp là gì?
1. Khái niệm:
- Đoạn văn phối hợp là đoạn văn được xây dựng bằng cách kết hợp từ hai hình thức triển khai đoạn văn trở lên trong cùng một đoạn, phổ biến nhất là: Diễn dịch + song song; Quy nạp + song song; Diễn dịch + móc xích; Quy nạp + móc xích; Tổng – phân – hợp (một dạng phối hợp điển hình)
- Trong đoạn văn phối hợp vẫn có thể có câu chủ đề (ở đầu hoặc cuối), đồng thời các câu còn lại triển khai ý theo nhiều cách khác nhau nhằm làm cho đoạn văn chặt chẽ, linh hoạt, giàu sức biểu đạt.
2. Ví dụ về hình thức đoạn văn phối hợp:
- Ví dụ 1: Diễn dịch + song song: Đọc sách mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho con người. Đọc sách giúp mở rộng tri thức. Đọc sách rèn luyện khả năng tư duy. Đọc sách bồi dưỡng đời sống tâm hồn.
+ Câu đầu: câu chủ đề → diễn dịch
+ Các câu sau: triển khai song song, ngang hàng về ý
- Ví dụ 2: Quy nạp + móc xích: Nhờ đọc sách, con người tích lũy được nhiều hiểu biết. Hiểu biết ấy giúp ta tự tin hơn trong giao tiếp. Sự tự tin khiến con người chủ động khẳng định bản thân. Vì vậy, đọc sách có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi người.
+ Các câu đầu: móc xích (ý sau nối ý trước)
+ Câu cuối: khái quát → quy nạp
- Ví dụ 3: Tổng – phân – hợp (phối hợp điển hình): Tinh thần tự học là yếu tố quyết định sự tiến bộ của học sinh. Tự học giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức. Tự học rèn luyện tính kỉ luật và trách nhiệm. Bởi thế, mỗi học sinh cần hình thành cho mình thói quen tự học nghiêm túc.
3. Phân loại:
Có thể phân loại đoạn văn phối hợp theo kiểu kết hợp hình thức và mục đích biểu đạt:
- Phân loại theo kiểu kết hợp hình thức:
+ Diễn dịch – song song
+ Diễn dịch – móc xích.
+ Quy nạp – song song.
+ Quy nạp – móc xích.
+ Tổng – phân – hợp.
-> Đây là cách phân loại quan trọng nhất trong dạy học.
- Phân loại theo mục đích biểu đạt:
+ Đoạn văn phối hợp nghị luận: Kết hợp nhiều hình thức để tăng sức thuyết phục.
+ Đoạn văn phối hợp tự sự: Kết hợp kể chuyện với phát triển ý liên hoàn.
+ Đoạn văn phối hợp miêu tả / biểu cảm: Kết hợp cảm xúc, hình ảnh, ấn tượng
VI. Phân biệt các hình thức đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích, phối hợp
* Cách 1: Phân biệt theo vị trí câu chủ đề
|
Hình thức đoạn văn |
Vị trí câu chủ đề |
Đặc điểm nhận diện nhanh |
|
Diễn dịch |
Đầu đoạn |
Ý chung → các ý cụ thể |
|
Quy nạp |
Cuối đoạn |
Các ý cụ thể → kết luận chung |
|
Song song |
Không có câu chủ đề rõ ràng |
Các câu ngang hàng |
|
Móc xích |
Không cố định |
Ý sau nối ý trước |
|
Phối hợp |
Có hoặc không |
Kết hợp ≥ 2 hình thức |
Ví dụ:
+ Diễn dịch: Đọc sách rất cần thiết cho học sinh. Nhờ đọc sách, học sinh mở rộng hiểu biết. Việc này còn giúp rèn luyện tư duy.
+ Quy nạp: Đọc sách giúp mở rộng hiểu biết. Đọc sách rèn luyện tư duy. Vì vậy, đọc sách rất cần thiết cho học sinh.
* Cách 2: Phân biệt theo hướng triển khai ý
|
Hình thức đoạn văn |
Hướng triển khai |
Từ khoá nhớ nhanh |
|
Diễn dịch |
Khái quát → cụ thể |
“Nêu ý rồi giải thích” |
|
Quy nạp |
Cụ thể → khái quát |
“Dẫn chứng rồi kết luận” |
|
Song song |
Nhiều ý ngang hàng |
“Liệt kê ý” |
|
Móc xích |
Ý trước → ý sau |
“Nối ý” |
|
Phối hợp |
Nhiều hướng |
“Kết hợp” |
Ví dụ:
+ Song song: Đọc sách mở rộng tri thức. Đọc sách bồi dưỡng tâm hồn. Đọc sách rèn luyện tư duy.
+ Móc xích: Đọc sách giúp tích lũy tri thức. Tri thức ấy tạo nên sự tự tin. Sự tự tin giúp con người thành công.
* Cách 3: Phân biệt theo mối quan hệ giữa các câu
|
Hình thức đoạn văn |
Quan hệ giữa các câu |
Dấu hiệu ngôn ngữ |
|
Diễn dịch |
Câu sau làm rõ câu đầu |
giải thích, chứng minh |
|
Quy nạp |
Câu cuối tổng hợp các câu trước |
vì vậy, do đó |
|
Song song |
Các câu độc lập tương đối |
lặp cấu trúc |
|
Móc xích |
Câu phụ thuộc chặt chẽ |
lặp từ, thế |
|
Phối hợp |
Quan hệ đa dạng |
nhiều dấu hiệu cùng lúc |
Ví dụ:
+ Móc xích: Lan chăm chỉ học tập. Việc đó giúp Lan đạt kết quả cao. Kết quả ấy khiến cô giáo hài lòng.
+ Song song: Lan chăm chỉ học tập. Lan lễ phép với thầy cô. Lan hòa đồng với bạn bè.
* Cách 4: Phân biệt bằng cách thử – mẹo làm bài
- Mẹo 1: Tìm câu chủ đề
+ Ở đầu → Diễn dịch
+ Ở cuối → Quy nạp
+ Không rõ → xét tiếp song song / móc xích.
- Mẹo 2: Bỏ bớt một câu
+ Bỏ được mà ý đoạn vẫn ổn → Song song
+ Bỏ là đứt mạch → Móc xích.
- Mẹo 3: Xem có kết hợp không: Vừa có câu chủ đề + móc nối ý → Phối hợp
* Cách 5: Phân biệt bằng ví dụ tổng hợp
- Diễn dịch: Tinh thần tự học rất quan trọng. Tự học giúp học sinh chủ động. Tự học rèn tính kỉ luật.
- Quy nạp: Học sinh cần chủ động học tập. Cần rèn tính kỉ luật. Vì vậy, tinh thần tự học rất quan trọng.
- Song song: Học sinh cần chăm học. Học sinh cần trung thực. Học sinh cần có trách nhiệm.
- Móc xích: Học sinh chăm học sẽ có kiến thức. Kiến thức giúp các em tự tin. Sự tự tin giúp các em thành công.
- Phối hợp (diễn dịch + song song): Tinh thần tự học rất cần thiết. Tự học giúp học sinh chủ động. Tự học rèn tính kỉ luật. Tự học nâng cao kết quả học tập.
VII. Bài tập minh họa.
Bài tập 1
Tìm câu chủ đề trong đoạn văn sau, từ đó, xác định kiểu đoạn văn. Phân tích tác dụng của cách tổ chức đó trong đoạn văn.
a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay chết theo nạn của vua; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường THCS Đặng Thai Mai,.... tất cả đều được nhận ra nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi “Nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo” không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục của trường mình trên khán đài.
Đáp án:
a. - Câu chủ đề trong đoạn văn: “Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!”
=> Đoạn văn quy nạp.
=> Tác dụng: Trong đoạn văn, tác giả đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng thực tế và có sức thuyết phục cao rồi kết luận lại bằng một câu ở cuối. Cách tổ chức này làm nổi bật lập luận của tác giả, tạo ra ấn tượng cho người đọc.
b. - Câu chủ đề của đoạn văn: Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo nên bản sắc của mỗi trường.
=> Đây là đoạn văn diễn dịch.
=> Tác dụng: Định hướng nội dung cho người đọc ngay từ đầu. Các câu sau nói rõ thêm cho ý ở câu chủ đề.
Bài tập 2
Đoạn văn dưới đây được tổ chức theo kiểu nào? Vì sao em cho là như vậy?
a. Quan trọng hơn cả, tự học còn là một thú vui rất thanh nhã, nó nâng cao tâm hồn ta lên. Ta vui vì thấy khả năng của ta đã thăng tiến và ta giúp đời nhiều hơn trước. Một thầy kí, một bác nông phu, bất kì hạng người nào, nếu chịu học hỏi tìm kiếm, cũng có thể cải thiện phương pháp làm việc của mình, và giảng giải những kinh nghiệm của mình cho người khác. Sau cùng, còn gì vui bằng tìm tòi và khám phá Pasteur, Eisntein, hai vợ chồng Curie và hàng trăm nhà bác học khác, suốt đời nghèo nàn mà lúc nào cũng mãn nguyện hơn những vua chúa trên ngai vàng; cả tháng cả năm tự giam trong phòng thí nghiệm, không hề biết những tiêu khiển của người đời mà thấy thời giờ trôi qua vẫn qua mau, là nhờ thủ tự học tìm tòi của họ.
b. Hiện nay, tại một số địa phương, người dân đã hưởng ứng “lối sống xanh” bằng những hành động thiết thực như tiết kiệm điện, nước, chăm sóc và bảo vệ cây xanh. Bên cạnh những hoạt động đó, việc buôn bán và sử dụng thực phẩm an toàn, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, ngăn chặn những hành vi làm ô nhiễm môi trường... cũng dần được mọi người chú ý thực hiện tích cực hơn. Tóm lại, “lối sống xanh” góp phần nâng cao chất lượng sống, bảo vệ môi trường xung quanh và ngày càng được nhiều người lựa chọn.
Đáp án:
a. Đây là đoạn văn diễn dịch vì có câu chủ đề mang ý khái quát đứng đầu đoạn: “tự học là một thú vui thanh nhã, nó nâng cao tâm hồn ta lên”; các câu sau triển khai cụ thể ý của câu chủ đề, bổ sung, làm rõ cho câu chủ đề: ở đây ta có thể dễ dàng nhận thấy các lí lẽ và dẫn chứng mà tác giả đưa ra.
b. Đây là đoạn văn quy nạp vì:
- Đoạn văn được trình bày đi từ các ý nhỏ đến ý lớn, từ các ý chi tiết đến ý khái quát: ở đây các ý nhỏ là những hành động nhằm bảo vệ môi trường, ý lớn là câu chủ đề.
- Câu chủ đề nằm ở vị trí cuối đoạn.
Bài tập 3
Xác định kiểu đoạn văn của những trường hợp sau. Phân tích tác dụng của cách thức tổ chức đoạn văn đó.
a. Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.
b. Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyền đất ruộng cho Chính phủ,... Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.
Đáp án:
a.
- Đoạn văn trên đây là đoạn văn song song.
- Tác dụng: Cách tổ chức kiểu này đảm bảo sự duy trì chủ đề thống nhất, không định hướng người đọc vào một quan điểm cụ thể nào. Kết luận thế nào là do người đọc tự suy nghĩ và rút ra. Ở trong đoạn văn, các binh sĩ sẽ tự suy ngẫm và rút ra quyết định của mình.
b.
- Đoạn văn trên là đoạn văn phối hợp:
- Tác dụng: Cách tổ chức kiểu này nêu ra quan điểm ở đầu rồi chứng minh ở các câu sau, cuối cùng là chốt một câu kết. Trong đoạn văn: câu đầu đưa ra nhận định là đồng bào ta ngày nay yêu nước, tiếp đó là hàng loạt dẫn chứng rồi đến câu cuối là chốt lại vấn đề nêu ở câu đầu. Điều đó có tác dụng trong việc khẳng định quan điểm của người viết.
Bài tập 4:
Đoạn văn dưới đây được tổ chức theo kiểu nào? Vì sao em cho là vậy?
a. Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương. Em thương bác đẩy xe bò "mồ hôi ướt lưng, căng sợi dây thừng" chở vôi cát về xây trường học, và mời bác về nhà mình... Em thương thầy giáo một hôm trời mưa đường trơn bị ngã, cho nên dân làng bèn đắp lại đường.
b. Mưa đã ngớt. Trời rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt. Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh.
c. Nguyên Hồng (1918 – 1982) tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Trước Cách mạng, ông sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo. Ngay từ tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người cùng khổ gần gũi mà ông yêu thương thắm thiết. Sau Cách mạng, Nguyên Hồng tiếp tục bền bỉ sáng tác, ông viết cả tiểu thuyết, kí, thơ, nổi bật hơn cả là các bộ tiểu thuyết sử thi nhiều tập. Nguyên Hồng được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).
Đáp án:
a.
- Đây là đoạn văn diễn dịch.
- Lí do: câu đầu là câu chủ đề, các câu sau chứng minh cho câu đó.
b.
- Đây là đoạn văn song song.
- Lí do: Không có câu chủ đề. Đoạn văn chỉ là một sự liệt kê những lời kể, tả hiện thực.
c.
- Đây là đoạn văn song song.
- Lí do: Đoạn văn không có câu chủ đề. Các câu trong đoạn là những thông tin khách quan nói về tiểu sử của Nguyên Hồng, không định hướng người đọc theo một quan điểm nào.
Bài tập 5
Các đoạn văn sau đây sai ở chỗ nào? Hãy chữa lại cho đúng.
a) Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là một đứa trẻ thông minh nhưng ngỗ ngược. Ngày đi học, Lê Quý Đôn đã có ý thức tìm tòi, nghiên cứu, phê phán những điểm phản khoa học thường được tôn sùng thời bấy giờ. Ông thường tham gia bình văn cùng những người lớn tuổi. Không ai dám coi thường "chú học nhãi ranh" học nhiều biết rộng ấy.
b) Cư dân Văn Lang rất ưa ca hát, nhảy múa. Họ hát trong những đêm trăng hoặc ngày hội. Họ còn hát trong những lúc chèo thuyền, săn bắn. Những nhạc cụ đệm cho những điệu hát thường là trống đồng, khèn, sáo, công....
Đáp án:
a.
- Lỗi sai: Đoạn văn sai về liên kết nội dung và mạch lạc, cụ thể:
+ Mâu thuẫn, thiếu logic trong ý:
Câu đầu nói: “một đứa trẻ thông minh nhưng ngỗ ngược”
Các câu sau lại nêu những biểu hiện: có ý thức tìm tòi, nghiên cứu, phê phán, bình văn với người lớn → đây là biểu hiện của thông minh, ham học, không làm rõ tính “ngỗ ngược”.
-> Ý “ngỗ ngược” không được triển khai, gây đứt mạch nội dung.
+ Xưng hô không thống nhất: Đang gọi là “Lê Quý Đôn” → chuyển sang “ông” → rồi “chú học nhãi ranh”. → Làm đoạn văn thiếu thống nhất ngôi kể.
- Sửa:
+ Cách 1: Giữ ý “ngỗ ngược”, triển khai cho logic: Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là một đứa trẻ thông minh nhưng khá ngỗ ngược. Ngày đi học, cậu đã sớm có ý thức tìm tòi, nghiên cứu và thường phê phán những điểm phản khoa học được tôn sùng thời bấy giờ. Chính sự thẳng thắn ấy khiến cậu nhiều lần tranh luận gay gắt với người lớn. Tuy vậy, không ai dám coi thường “chú học nhãi ranh” học nhiều biết rộng ấy.
+ Cách 2: Bỏ ý “ngỗ ngược” để mạch lạc hơn: Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là một đứa trẻ rất thông minh và ham học. Ngày đi học, cậu đã có ý thức tìm tòi, nghiên cứu và phê phán những điểm phản khoa học thường được tôn sùng thời bấy giờ. Cậu còn thường tham gia bình văn cùng những người lớn tuổi. Vì thế, không ai dám coi thường “chú học nhãi ranh” học nhiều biết rộng ấy.
b.
- Lỗi sai: Đoạn văn không sai về kiến thức, nhưng mắc lỗi liên kết hình thức, cụ thể:
+ Lặp từ “họ” và “hát” quá nhiều, gây: Nặng nề, thiếu linh hoạt trong diễn đạt
+ Liệt kê chưa gọn, có thể gom ý để đoạn văn mạch lạc hơn.
- Sửa:
+ Cách 1: Giảm lặp từ, tăng liên kết: Cư dân Văn Lang rất ưa ca hát, nhảy múa. Những điệu hát vang lên trong các đêm trăng, ngày hội, cũng như lúc chèo thuyền hay săn bắn. Nhạc cụ đệm cho những làn điệu ấy thường là trống đồng, khèn, sáo, công...
+ Cách 2: Giữ cấu trúc gần nguyên bản nhưng sửa lỗi: Cư dân Văn Lang rất ưa ca hát, nhảy múa. Họ hát trong những đêm trăng, ngày hội, cũng như trong lúc chèo thuyền và săn bắn. Những nhạc cụ đệm cho các điệu hát thường là trống đồng, khèn, sáo, công...
Bài tập 6
Hãy viết một đoạn văn (10-15 dòng) sử dụng hình thức đoạn văn phối hợp để trình bày về vấn đề môi trường.
Đáp án:
Đoạn văn:
Môi trường đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng do tác động của con người. Ô nhiễm không khí khiến chất lượng cuộc sống ngày càng suy giảm. Ô nhiễm nguồn nước làm cạn kiệt tài nguyên và đe dọa sức khỏe cộng đồng. Ô nhiễm đất phá vỡ hệ sinh thái và làm giảm khả năng sản xuất nông nghiệp. Những dạng ô nhiễm ấy xuất phát từ việc con người khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát. Việc khai thác thiếu kiểm soát lại dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái. Sự mất cân bằng sinh thái khiến thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp và khó lường. Không chỉ vậy, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân còn hạn chế. Họ xả rác bừa bãi, sử dụng nhiều sản phẩm nhựa dùng một lần. Chính những hành vi nhỏ ấy góp phần làm môi trường thêm ô nhiễm. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong xã hội.
Giải thích ngắn gọn hình thức phối hợp:
+ Câu đầu: diễn dịch (nêu ý khái quát).
+ Các câu tiếp theo (ô nhiễm không khí, nước, đất): song song.
+ Các câu in đậm: móc xích (ý sau nối ý trước).
+ Câu cuối: tổng kết – khái quát.
Bài tập 7
Có ý kiến cho rằng: “Các câu trong đoạn văn cần được liên kết chặt chẽ với nhau.”
Em có đồng ý với ý kiến trên không?
Hãy trình bày suy nghĩ của em (3-5 dòng), có dẫn chứng cụ thể.
Đáp án:
Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Các câu trong đoạn văn nếu rời rạc sẽ làm cho mạch ý bị đứt gãy. Sự đứt gãy ấy khiến người đọc khó theo dõi nội dung. Điều đó làm giảm hiệu quả biểu đạt của đoạn văn. Vì thế, việc liên kết chặt chẽ giữa các câu là yêu cầu cần thiết khi viết đoạn.
Xem thêm kiến thức Tiếng Việt chọn lọc hay khác:
Phân biệt lỗi dùng từ và lỗi về thành phần câu trong văn bản
Phân biệt lỗi về trật tự từ và lỗi về logic, câu mơ hồ trong văn bản
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Đề thi lớp 1 (các môn học)
- Đề thi lớp 2 (các môn học)
- Đề thi lớp 3 (các môn học)
- Đề thi lớp 4 (các môn học)
- Đề thi lớp 5 (các môn học)
- Đề thi lớp 6 (các môn học)
- Đề thi lớp 7 (các môn học)
- Đề thi lớp 8 (các môn học)
- Đề thi lớp 9 (các môn học)
- Đề thi lớp 10 (các môn học)
- Đề thi lớp 11 (các môn học)
- Đề thi lớp 12 (các môn học)
- Giáo án lớp 1 (các môn học)
- Giáo án lớp 2 (các môn học)
- Giáo án lớp 3 (các môn học)
- Giáo án lớp 4 (các môn học)
- Giáo án lớp 5 (các môn học)
- Giáo án lớp 6 (các môn học)
- Giáo án lớp 7 (các môn học)
- Giáo án lớp 8 (các môn học)
- Giáo án lớp 9 (các môn học)
- Giáo án lớp 10 (các môn học)
- Giáo án lớp 11 (các môn học)
- Giáo án lớp 12 (các môn học)


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

