(Ôn thi ĐGTD TSA) Chuyên đề: Giới thiệu phần thi Tư duy Đọc hiểu

Chuyên đề Giới thiệu phần thi Tư duy Đọc hiểu trong tài liệu ôn thi Đánh giá tư duy TSA theo cấu trúc mới nhất đầy đủ lý thuyết trọng tâm, các dạng bài & bài tập đa dạng từ cơ bản đến nâng cao giúp Giáo viên & học sinh có thêm tài liệu ôn thi ĐGTD Đại học Bách khoa đạt kết quả cao.

(Ôn thi ĐGTD TSA) Chuyên đề: Giới thiệu phần thi Tư duy Đọc hiểu

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Chỉ từ 200k mua trọn bộ Đề thi & Tài liệu ôn thi ĐGNL - ĐGTD năm 2026 của các trường theo cấu trúc mới bản word có lời giải chi tiết:

Quảng cáo

1) Cấu trúc phần thi

Để có sự chuẩn bị thật tốt cho phần thi đánh giá Tư duy Đọc hiểu TSA, đầu tiên, các em cần nắm vững mục đích và cấu trúc của phần thi này. Phần đánh giá Tư duy Đọc hiểu TSA được thiết kế với mục đích đánh giá khả năng đọc nhanh và hiểu đúng các văn bản được trình bày theo hình thức, phương thức và thể loại khác nhau, giúp lựa chọn các em học sinh có khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin phục vụ cho việc học tập ở bậc đại học.

So sánh phần thi Tư duy Đọc hiểu của TSA, có những đặc điểm giống và khác phần Đọc hiểu môn Ngữ văn của Kỳ thi tốt nghiệp THPT như sau:

Bảng 2.1. So sánh phần thi Đọc hiểu môn Ngữ văn của Kỳ thi tốt nghiệp THPT và phần thi Tư duy Đọc hiểu TSA

Đặc điểm

Phần Đọc hiểu của môn Ngữ văn

Phần thi Tư duy Đọc hiểu TSA

Số lượng văn bản

01

02

Thể loại văn bản

Nghị luận, nghệ thuật, báo chí

Khoa học, báo chí, văn học

Số lượng

04 câu hỏi

20 câu

Hình thức câu hỏi

Tự luận

Trắc nghiệm

Độ khó

Ba mức độ:

- Mức độ nhận biết

- Mức độ thông hiểu

- Mức độ vận dụng cao

Ba mức độ:

- Mức độ tư duy tái hiện

- Mức độ tư duy suy luận

- Mức độ tư duy bậc cao

Kiến thức cần trang bị

Kiến thức về thể thơ và các thể loại văn học khác, phong cách ngôn ngữ, rút ra ý nghĩa, thông điệp, nhận biết các biện pháp tu từ, các hình thức thể hiện của văn bản.

Không kiểm tra kiến thức môn học ở cấp THPT, đánh giá nền tảng kiến thức về các vấn đề trong xã hội.

 

Quảng cáo

Có thể thấy rằng, phần thi Tư duy Đọc hiểu TSA của Đại học Bách khoa Hà Nội tập trung đánh giá khả năng chuyển hóa ý nghĩa từ một số văn bản, nhằm đo lường khả năng thu thập thông tin với những gì được tuyên bố rõ ràng và lập luận để xác định ý nghĩa của văn bản, thay vì việc kiểm tra các kiến thức môn Ngữ Văn. Vì thế, các em học sinh cấp Trung học phổ thông đều có thể đăng ký làm bài thi TSA.

2) Thể loại văn bản

Về văn bản đọc, các em sẽ được đọc bài thuộc một trong ba thể loại sau: văn bản văn học, văn bản báo chí và văn bản khoa học (khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật – công nghệ). Mỗi bài đọc sẽ có độ dài khoảng 1.000 từ, bàn về các chủ đề: văn học, khoa học, công nghệ, kinh tế, kỹ thuật, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, ngân hàng, y dược, v.v.. Thông thường, các bài đọc sẽ bàn về các chủ đề mới hoặc tương đối mới, được nhiều người quan tâm, đặc biệt là giới trẻ. Văn phong được viết trong các bài mang tính đặc trưng của ba thể loại văn bản này.

Mỗi văn bản đều có những đặc điểm cơ bản để nhận dạng và các yếu tố này giúp phân biệt thể loại này với các thể loại văn bản khác. Sau đây là một vài thông tin cụ thể giúp các em hiểu kỹ hơn về các thể loại văn bản được sử dụng.

Quảng cáo

2.1. Văn bản văn học

Văn bản văn học có thể bao gồm các thể loại sau: truyện ngắn, tiểu thuyết, câu chuyện truyện ngụ ngôn, sử thi, v.v.. Mục đích của văn bản văn học là nhằm biểu đạt cảm xúc, tự tưởng, tình cảm của tác giả và mang đến cho người đọc những trải nghiệm nghệ thuật, nhân sinh quan và thẩm mỹ. Ngôn ngữ được sử dụng một cách sáng tạo, có tính nghệ thuật cao.

Văn bản văn học thường sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hóa và các hình thức nghệ thuật khác. Cấu trúc bài viết rất linh hoạt, có thể theo cấu trúc truyện kể (cốt truyện, nhân vật, bối cảnh) hoặc cấu trúc thơ (vần điệu, nhịp điệu). Phong cách viết thường đa dạng, phụ thuộc vào thể loại (ví dụ: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch và phong cách riêng của tác giả.

Sau đây là một đoạn trích của một văn bản văn học:

MẪU CHUYỆN NHỎ (LỖ TẤN)

[1] Tôi bỏ quê nhà lên Bắc Kinh thấm thoắt đã sáu năm rồi. Trong thời gian đó, những việc gọi là "quốc gia đại sự”, mắt thấy tai nghe, kể cũng không phải ít, nhưng chẳng để lại một tỉ dấu vết nào trong lòng tôi cả. Giá bảo tìm xem có ảnh hưởng gì đến tôi không thì phải nói, chỉ làm cho tôi càng thêm gàn dở, mà thành thực hơn thì phải nói, chỉ làm cho tôi càng thêm khinh người.

Quảng cáo

[2] Nhưng có một việc tầm thường đối với tôi lại có ý nghĩa, khiến tôi phải bỏ tính gàn dở đi, và cho đến nay, vẫn không hề quên.

(3) Ấy là vào mùa đông năm Dân quốc thứ 61. Gió bắc thổi mạnh lắm, nhưng vì sinh kế, vừa sáng sớm, tôi đã phải ra đường. Dọc đường, hầu như không gặp ai cả. Vất vả lắm mới thuê được một chiếc xe kéo, bảo kéo đến cửa S. Một lát, gió dịu dần. Mặt đường không còn một hạt bụi, sạch bỏng, trắng xóa. Anh xe chạy càng nhanh. Gần đến cửa S. bỗng một người nào vương phải căng xe, rồi ngã dần dẫn xuống.

[4] Đó là một người đàn bà, tóc hoa râm, áo quần rách rưới. Bà ta từ bên kia lề đường thình lình chạy qua chiếc xe, anh xe đã tránh rồi, nhưng cái ảo bông bà ta không cài khuy, gió thổi lật lên, vướng vào càng xe. May mà anh xe đã bước chậm lại rồi, không thì đã ngã lộn nhào đến vỡ đầu mất!.

[5] Bà ta vẫn nằm phục dưới đất, anh xe cũng vừa dùng lại. Tôi đoán bà ta chẳng bị thương tích gì, và cũng không có trông thấy. Tôi trách anh xe đến đa sự, tự chuốc lấy việc lôi thôi vào mình làm tôi phải đi trễ....

(Trích Truyện ngắn Lỗ Tấn, Trương Chinh địch. NXB Văn học, 2000, tr. 68 – 70)

Như các em đã thấy, trích đoạn trên nằm trong một tập truyện ngắn. Người kể chuyện đã sống ở Bắc Kinh sáu năm, mặc dù đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng song chúng không để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng anh. Tuy nhiên, có một sự việc tầm thường nhưng hai gây ấn tượng mạnh với anh, khiến anh thay đổi quan điểm và không thể quên được. Qua việc miêu tả chi tiết tình huống và phản ứng của nhân vật, Lỗ Tấn tạo ra một bức tranh sống động về xã hội đương thời và các mâu thuẫn trong lòng người. Đây là cách mà tác giả thể hiện nhân sinh quan của mình, đồng thời mang lại cho người đọc những trải nghiệm nghệ thuật về cuộc sống và con người.

Tác giả đã sử dụng nhuần nhuyễn các từ ngữ biểu đạt rõ tình cảm con người như: “gàn dơ”, “khinh người”; biện pháp hoán dụ được thể hiện trong cụm từ “quốc gia đại sự; ẩn dụ ; “mắt thấy tai nghe”; so sánh ngầm trong “Mặt đường không còn một hạt bụi, sạch bóng, trắng xóa”.

Ngoài ra, cấu trúc của văn bản có tính linh hoạt cao, phù hợp với thể loại truyện ngắn. Câu chuyện được kể theo trình tự thời gian, bắt đầu từ quá khứ (sáu năm ở Bắc Kinh) rồi chuyển sang một sự việc cụ thể xảy ra trong mùa đông năm Dân quốc thứ 61.

Có thể thấy, văn bản này là một ví dụ điển hình cho văn bản văn học với đặc điểm biểu đạt cảm xúc, tư tưởng và tình cảm của tác giả, mang đến trải nghiệm nghệ thuật và nhân sinh quan sâu sắc. Ngôn ngữ được sử dụng sáng tạo và có tính nghệ thuật cao cùng với cấu trúc linh hoạt và phong cách viết đa dạng, tạo nên một tác phẩm mang giá trị thẩm mỹ và tư tưởng cao.

2.2. Văn bản báo chí

Văn bản báo chí có thể bao gồm các bài phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận.

Mục đích của văn bản báo chí là nhằm thông tin, phản ánh kịp thời các sự kiện, vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ phổ thông, rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn và súc tích. Văn bản báo chí thường sử dụng câu đơn và câu ngắn để tạo sự dễ đọc và nhanh chóng nắm bắt thông tin. Cấu trúc bài viết thường bao gồm các phần: tiêu đề, lời dẫn, thân bài và kết luận. Trong đó, tiêu đề và lời dẫn rất quan trọng để thu hút sự chú ý của độc giả. Các bài viết luôn có phong cách khách quan, trung thực. Khác với văn bản văn học, văn bản báo chí không bày tỏ cảm xúc hay quan điểm cá nhân của người viết. Ngoài ra, trong văn bản báo chí, người đọc được tiếp cận với nhiều số liệu tổng hợp từ các báo cáo chính thống.

Sau đây là một đoạn trích trong đề thi minh họa thuộc văn bản báo chí:

DOANH NGHIỆP VÀ ĐỐI MỚI SÁNG TẠO

[0] (TBTCO) - Theo Tiến sĩ Sung Kiong Kok - Giảng viên Đại học RMIT, làm rõ vấn đề, lên ý tưởng, phát triển giải pháp và thực thi là những nguyên tắc tư duy thiết kế cơ bản để dẫn dắt quy trình đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp thuộc mọi quy mô, từ các ngã khổng lồ" đa quốc gia đến những công ty khởi nghiệp từ cộng đồng. Vấn đề cốt lõi để mở rộng hoạt động đổi mới.

[1] Chia sẻ về những vấn đề liên quan đến hoạt động đổi mới sáng tạo, TS. Seng Kiong Kok khẳng định, “đổi mới sáng tạo” hiện đang là cụm từ kích hoạt hành động trong thế giới doanh nghiệp. Dữ liệu khảo sát gần đây cho thấy, khái niệm này luôn nằm trong top 3 ưu tiên hàng đầu của các công ty. Ngoài ra, một số minh chứng cũng chỉ ra rằng, những doanh nghiệp đầu tư nhiều vào đồi mới trong giai đoạn đại dịch toàn cầu vừa qua đều có được kết quả kinh doanh cao hơn đối thủ.

[2] Mặc dù đổi mới sáng tạo đang thu hút được khá nhiều sự quan tâm nhưng đây vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, bởi ở mỗi nơi lại có hình thái khác. Nhưng một điều chắc chắn là rất ít doanh nghiệp muốn bị coi là đang đứng ngoài cuộc chơi đội mới. Việc thiếu định nghĩa cơ bản như vậy có thể là lý do khiến các doanh nghiệp vẫn còn yếu kém trong việc mở rộng quy mô đầu tư đổi mới để tạo ra giá trị cho tổ chức, v.v..

(Theo Đỗ Doãn, Thời báo Tài chính Việt Nam, đăng ngày 03/01/2023,

https://thoibaotaichinhvietnam.vn)

Như các em có thể thấy, đoạn trích đề cập đến tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp hiện đại dựa trên các khảo sát và ý kiến của chuyên gia. Mục đích chính là cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan về xu hướng này trong thế giới doanh nghiệp. Ngoài ra, đoạn trích còn mang các đặc trưng của ngôn ngữ báo chí được thể hiện tố như sau: tiêu đề ngắn gọn và súc tích; thông tin ngắn gọn, cô đọng được thể hiện rõ ở từng đoạn văn bằng những câu đơn và câu ngắn.

Bài viết có phong cách viết khách quan, cung cấp thông tin mà không bày tỏ ý kiến cổ nhân của người viết. Bài viết trích dẫn ý kiến của Tiến sĩ Seng Kiong Kok và dữ liệu khảo sát cùng các dẫn chứng số liệu cụ thể để đưa ra thông tin một cách khách quan: “Dữ liệu khảo sát gần đây cho thấy, khái niệm này luôn nằm trong top 3 ưu tiên hàng đầu của các công ty”, giúp bài viết có độ tin cậy cao hơn. Bên cạnh đó, văn bản còn sử dụng số liệu và dẫn chứng cụ thể từ các báo cáo chính thống để tăng tính thuyết phục.

Đoạn trích “Doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo” là một ví dụ điển hình của văn bản báo chí với mục đích thông tin kịp thời, sử dụng ngôn ngữ phổ thông, rõ ràng, dễ hiểu, cấu trúc bài viết rõ ràng và phong cách viết khách quan, trung thực. Các đặc điểm này giúp vận bản báo chí truyền tải thông tin hiệu quả và thu hút độc giả

2.3. Văn bản khoa học

Văn bản khoa học bao gồm ba loại chính: văn bản chuyên sâu (chuyên khảo, luận đi luận văn tiểu luận, v.v.), văn bản khoa học giáo khoa (giáo trình, sách giáo khoa thiết kế bài dạy, v.v.); văn bản khoa học phổ cập (các bài báo và sách phổ biến khoa học kỹ thuật). Các bài đọc trong phần thi Tư duy Đọc hiểu sẽ chủ yếu thuộc thể loại văn bản khoa học phổ cập này.

Mục đích của văn bản khoa học là để trình bày, phân tích và giải thích các khái niệm, lý thuyết, hiện tượng khoa học; truyền đạt thông tin khoa học và kết quả nghiên cứu. Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ chuyên ngành, chính xác, rõ ràng và không mơ hồ. Văn bản khoa học yêu cầu sự chặt chẽ trong lập luận và hệ thống hóa thông tin. Cấu trúc của văn bản khoa học chuẩn mực thường bao gồm: tiêu đề, tóm tắt, lời mở đầu, phương pháp nghiên cứu, kết quả, thảo luận và kết luận. Phong cách viết khách quan, khoa học, không thể hiện quan điểm cá nhân một cách trực tiếp.

Sau đây là một đoạn trích trong đề thi minh họa thuộc thể loại văn bản này:

CÔNG NGHỆ VSR

[0] Trong những năm gần gây, các kỹ thuật học sâu đã đạt được những tiến bộ đáng chú ý trong nhiều tác vụ xử lý ngôn ngữ và hình ảnh. Những tiến bộ này bao gồm việc nhận dạng tiếng nói bằng hình ảnh (VSR) – một tác vụ đòi hỏi phải xác định được nội dung của lời nói chỉ bằng cách phân tích chuyển động môi.

[1] Mặc dù một số thuật toán học sâu để thực hiện tác vụ VSR này đã đạt được những kết quả rất hứa hẹn, tuy nhiên, chúng hầu như chỉ được huấn luyện để nhận dạng tiếng nói là tiếng Anh, do hầu hết các bộ dữ liệu huấn luyện hiện nay không có các tiếng nói của các ngôn ngữ khác. Điều này khiến cho lượng người dùng tiềm năng của thuật toán bị giới hạn ở nhóm người sống hoặc làm việc ở môi trường nói tiếng Anh.

................................

................................

................................

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Xem thêm tài liệu ôn thi Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa TSA hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học