Top 11 Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca
Tổng hợp các bài văn Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca hay nhất, ngắn gọn với dàn ý chi tiết giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 1)
- Dàn ý Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 2)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 3)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 4)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 5)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 6)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 7)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 8)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (mẫu 9)
- Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca (các mẫu khác)
Top 11 Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 1
Nếu nói những con chữ là tinh hoa nghệ thuật thì những thi nhân chĩnh là những nhà nghệ sĩ. Họ dùng con chữ để vẽ ra những bức tranh tuyệt đẹp. Trần Đăng Khoa chính là một nghệ nhân như vậy. Qua bài thơ Lính đảo hát bài ca trên đảo, những cảnh vật, con người xuất hiện lung linh. Vẻ đẹp ấy càng tôn lên được ý nghĩa của việc họ đang làm, của nhiệm vụ thiêng liêng canh giữ nói đất đảo. Hình ảnh của những người lính được ông khai thác dưới một góc nhìn vừa thơ mộng, vừa thể hiện được hết sự khó khăn của cuộc sống nơi hải đảo xa xôi.
“Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng
Sỏi cát bay như lũ chim hoang
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…”
Ngay đoạn mở đầu, người đọc đã thấy được hết những cái khắc nghiệt của hải đảo. Nơi đây chỉ thấy nắng và gió, đảo theo dòng nước mà luôn thay đổi hình dáng. Trên nền khung cảnh tưởng chừng như chẳng thấy điểm cuối ấy, chim hoang vẫy cánh làm cảnh vật càng thêm tiêu điều. Mỗi ngày, cuộc sống con người nơi đây đều phải chịu sự vất vả ấy. Nhưng chính do đó, họ dần quen thuộc và bình thản trước những sóng gió ấy. Trên nền cảnh vật xơ xác, sự mãnh liệt và quyết tâm của những người lính làm sáng lên cả bức tranh chỉ toàn gam màu vàng và xanh. Họ lạc quan, cổ vũ nhau tiến bước về phía trước mặc cho sự vất vả vây quanh. Với họ, có lẽ chỉ cần có “chiến hữu” thì chẳng còn khó khăn mà chỉ có niềm vui và những điều thú vị. Hình ảnh so sánh mây nước như một buổi biểu diễn, màn ấy là một sân khấu lơ lửng giữa đất trời. Đó là một cách liên tưởng vô cùng độc đáo và thú vị của tác giả.
“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau
Những lúc vui cứ gọi đùa sư cụ
Là bà con xa với bụt ốc đây mà
Thôi lặng yên nghe. Có gì đang đang sóng sánh
Hóa ra là sư cụ hát tình ca”
Những câu thơ tiếp theo đây vẫn là hình ảnh khắc nghiệt của thiên nhiên vùng hải đảo. Không chỉ gò cát làm hoạt động những người lính khó khăn, mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe của họ. Những người lính hiện lên với hình ảnh ai nấy đều trọc đầu, kể cả già trẻ đều như nhau. Đó chính là do họ tự cạo hết tóc của mình để tránh dùng nhiều nước trong khi vệ sinh cá nhân. Bởi nơi đây, thứ hiếm hoi và cần tiết kiệm nhất chính là nước ngọt. Quanh đảo đều là nước, nhưng đó đều là nước biển mặn chát không thể sử dụng được. Thứ những người đất liền chúng ta không coi trọng, lại được những con người ở đó quý trọng đến từng giọt nhỏ. Để làm dịu đi bầu không khí nặng nề ấy, tác giả đã sử dụng những ngôn ngữ, hình ảnh hài hước. Đó là câu nói những người lính đầu trọc trông thật “tếu” và đùa vui so sánh họ với hình ảnh “sư cụ”. Sự đoàn kết của những người lính không chỉ còn là đồng chí, họ là những người anh em cũng chung hoạn nạn, là những người như một gia đình. Và cuối đoạn, bài ca ngân lên với giai điệu nhẹ nhàng như sóng biển. Đó chính là sự quyến rũ khi người và vật hòa quện vào nhau, khi thiên nhiên đàn, biển tấu và con người ngân nga khúc tình ca.
“Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi
Đêm buông xuống nhình nhau không rõ nữa
Cứ ngỡ như đảo đá cất thành lời…
Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng. Hàng cây cũng tươi xinh
Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ
Và tay mình lại nắm lấy tay mình
Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?
Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được
Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh?
Trông bốn phía chỉ âm u mây nước
Nào hát lên cho mấy nước biết
Rằng chúng ta là những con người
Yêu em thủy chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai…
Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này”
Giọng hát như con người, những người lính cất giọng được miêu tả là ngang tàng, đúng chất những người chiến sĩ. Tuy nhiên giai điệu họ đang ngâm lại là những khúc tình ca lãng mạn toàn nhớ với thương. Lời ca ấy thể hiện sự yêu đời, lạc quan, cũng là niềm khao khát về một tình yêu của những người lính trẻ. Trong đêm ấy, tạm bỏ hết những gánh nặng trên vai, họ cũng chỉ là những chàng trai qua đôi mươi đầy khao khát, mong chờ. Những hình ảnh tiếp theo là sự ao ước về một viễn cảnh hạnh phúc. Rời xa hiện thực, mọi người như chìm vào đó với biển đảo, những sự vật nơi đất biển. Hai câu thơ cuối, “Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này” như một lời tuyên thệ. Họ sẽ vẫn đứng đó để bảo vệ từng tấc đất. Bởi sự hòa bình, một đất nước toàn vẹn cũng là khởi đầu từ sự yên bình nơi hải đảo xa xôi.
“Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu…”
Sau đoạn ngân lên đầy những cảm xúc, tác giả cũng thăng hoa trong những con chữ bay bổng. Bỗng “bàng hoàng” nhìn lại, như có gì kích động tác giả. Hóa ra đó là những “đầu trọc” của đồng đội, như đưa mọi người về lại hiện thực và trách nhiêm của mình. Tuy nhiên, khi đọc đến đây, người đọc lại chẳng cảm nhận được sự khó chịu của những người lính. Họ cam tâm làm tất cả vì Tổ Quốc thân yêu.
Với ngôn ngữ thơ mộc mạc nhưng lại như một bài ca du dương, Trần Đăng Khoa còn sử dụng rất nhiều từ gợi hình để làm người đọc hiểu rõ thêm về cuộc sống và con người ở vùng đảo xa xôi. Đó là những con người vừa dũng cảm, vừa mang trong mình tinh thần và tình yêu tha thiết. Cách trang giấy mà ta vẫn có thể hình dung được những người ấy, đẹp đẽ và nên thơ đến vậy!
Dàn ý Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca
1. Mở bài:
Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
2. Thân bài:
- Phân tích cuộc sống của những người chiến sĩ biển đảo.
- Khúc tình ca nơi hải đảo đầy nắng gió.
- Đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ.
3. Kết bài: Khái quát nội dung và cảm nhận về bài thơ.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 2
Một loạt bài thơ của Trần Đăng Khoa viết về biển đảo và người lính được bạn đọc hoan nghênh đón nhận như: Tự tình người lính biển, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài,... và đây là thi phẩm Lính đảo hát tình ca trên đảo. Bài thơ góp một giọng điệu rất riêng, vừa tươi vui, hóm hỉnh nhưng cũng cảm động, sâu lắng về cuộc sống của người lính nơi đảo xa. Nhờ đó, tác phẩm neo vào lòng người sâu sắc, bền chặt suốt mấy chục năm qua.
Khổ đầu trong bài thơ được Trần Đăng Khoa miêu tả sự khắc nghiệt về thời tiết nơi quần đảo Trường Sa nhiều nắng gió. Cái sân khấu dựng lên giữa trời biển bao la ấy phải kì công và độc đáo lắm mới chịu nổi cái gió như quăng quật, tấp táp vào mặt con người. Sân khấu kê lên từ đá san hô biển, cánh gà phải dựng bằng tôn, tất cả đều tạm bợ thế thôi, vì không có phông màn nào chịu nổi thông thốc của gió trời biển đảo:
Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn máy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa.
Nhưng sự thú vị nhất lại nằm ở khổ thơ thứ hai. Ở đây có sự đối lập giữa cái khắc nghiệt của thiên nhiên và sự dũng cảm, lạc quan của người lính. “Gió rát mặt”, “sỏi cát bay như lũ chim hoang”, thuỷ triều xuống lên liên tục khiến cho đảo cũng thay hình đổi dạng không ngừng. Quả là một vùng đất đầy gian nan, thử thách đối với người lính. Tuy vậy, người lính vẫn hiên ngang, lãng mạn và hào sảng:
Gió rát mặt, Đảo luôn thay hình dáng
Sỏi cát bay như lũ chim hoang
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Máy nước đã mở màn...
Từ “mây nước mở màn”, hình tượng người lính đảo hiện lên thật độc đáo, tếu táo qua hình dáng bên ngoài lẫn vẻ đẹp tâm hồn, nhờ đó đã giúp cho Trần Đăng Khoa có được một giọng thơ hóm hỉnh, bông đùa nhưng tạo được cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.
Cuộc sống trên đảo Trường Sa khắc nghiệt, gian khổ “đến một cái cây cũng không sống được”, thành ra người lính cũng phải chấp nhận để thích nghỉ với môi trường. Thiếu thốn đủ thứ, trong đó có nước ngọt, vì vậy phần lớn họ phải cạo trọc đầu cho đỡ rít khi không có nước ngọt gội tóc, thành ra “lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau”. Đọc đến đây, hẳn chúng ta không thể quên hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, cũng tếu táo và có vẻ “bặm trợn” khác thường giữa cuộc sống núi rừng miền Tây Bắc khắc nghiệt: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”:
Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng... rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Họ gọi đùa nhau là “sư cụ”, là “bà con xa với bụt ốc”, thế hoá thành vui nhộn vì cảnh tượng “sư cụ hát tình ca” mới đưa duyên và “sóng sánh” làm sao! Quả vậy, chính cuộc sống gian nan giữa nước trời thăm thẳm ấy, hình tượng người lính Trường Sa hiện lên thật lãng mạn và hào hoa. Họ hát tình ca trên đảo với biết bao tâm trạng và cảm xúc trào dâng: Khát khao một tình yêu chảy bỏng, bày tỏ sự nồng nàn và chung thuỷ thiết tha.
Cái giọng tình ca ở đây cũng thật kì lạ, cứ “ngang tàng như gió biển” nhưng lời lẽ tình tứ không chê vào đâu được, bồi hồi bỏng cháy “toàn nhớ với thương thôi”. Có lẽ chính những năm tháng sống cùng đồng đội nơi biển cả bạc trùng, nơi đảo nổi, đảo chìm của Tổ quốc giúp Trần Đăng Khoa có được chất liệu hiện thực chân thật và sâu sắc đến thế. Đọc thơ, người đọc không chỉ hiểu thêm về cuộc sống người lính Trường Sa mà còn để trái tim mình cảm thông và rưng rưng xúc động. Chính cái giọng phớt đời, tưng tửng lại là chỗ xót xa và lấy nhiều nước mắt của người đọc:
“Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi
Đêm buông xuống nhìn nhau không rõ nữa
Cứ ngỡ như vỏ ốc cất thành lời...
Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng
Hàng cây cũng tươi xinh
Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ
Và tay mình lại nắm lấy tay mình.”
Hóm hỉnh nhất là khổ thơ với các câu hỏi tu từ tự vấn về người yêu của người lính đảo. Họ hát tình ca, yêu đắm say và nhớ thương tha thiết chỉ qua tưởng tượng, thành ra họ hình dung về người yêu của mình cũng có năm bảy đường khác biệt. “Các em ở phương nào?”, “Các em cao hay thấp?” Xót xa nhất là bóng dáng nào sẽ đến với các anh như một câu hỏi xoáy sâu vào lặng lẽ, vào thăm thẳm ruột gan mong chờ khao khát mỗi khi đêm về trông ra chỉ bốn bề mây nước âm u:
“Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?
Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được
Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh?
Trông bốn phía chỉ âm u mây nước.”
Lãng mạn, hào hoa là thế, nhưng chất lính, sự kiên cường và dấn thân của người lính mới chính là vẻ đẹp cao cả về lòng yêu nước. Hát tình ca để khẳng định tình yêu thuỷ chung, khẳng định chủ quyền đất nước. Nhà thơ không nói hết, nhưng đó là tiếng nói phản kháng chiến tranh, là tiếng nói nhân văn sâu sắc. Cao hơn, hình tượng người lính đứng giữa trời nước bao la bảo vệ chủ quyền thiêng liêng cho Tổ quốc chính là trách nhiệm lớn lao, thiêng liêng không gì sánh được:
“Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngục ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.”
Đến cuối bài, giọng điệu và hình ảnh thơ vẫn sống động, hóm hỉnh và tếu táo mang đậm phong cách thơ Trần Đăng Khoa. Hình ảnh “toàn những đá trọc đầu” khi thuỷ triều vừa rút như một kết thúc bất ngờ và ám ảnh. Đó là cả một sự quan sát, một phút xuất thần để có những câu thơ hay:
“Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ô, hoá ra toàn những đá trọc đầu....”
Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa là một bài thơ hay, để lại ấn tượng sâu sắc từ khi ra đời cho đến nay. Từ cầu tứ, hình ảnh, giọng điệu, tất cả đọc lên cứ vừa tếu táo, bông đùa nhưng lại cảm thương sâu sắc về cuộc đời người lính biển. Họ trở thành tượng đài bất khuất giữa trùng khơi, như một minh chứng cho lòng quả cảm, sự kiên cường của một dân tộc chưa bao giờ khuất phục, sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tình ca và hùng ca, hóm hỉnh và lắng đọng, trần trụi và đầy suy tư,... là những trạng thái cảm xúc hài hoà, gắn kết xuyên suốt bài thơ [...] Qua đó, khơi dậy niềm tự hào và tình yêu biển đảo đối với thế hệ trẻ, nhất là ca ngợi vẻ đẹp hào hùng của người lính biển trong vai trò bảo vệ chủ quyền đất nước trong giai đoạn hiện nay.”.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 3
Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi (puskin). Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình, là tiếng nói tình cảm là những rung động của trái tim con người trước cuộc đời. Ta say đắm trước áng mây hồng của buổi sớm mai bình minh hay áng mây buồn khi chiều tà khuất lối? Ta rung động trước cánh hoa đẹp lung linh kiều diễm hay những cánh đồng lúa úa tàn không sinh khí? Thơ không chỉ là những đóa hoa cao sang kiều diễm mà thơ đôi khi là những cơn gió rít lên từng hồi, là những làn sóng dồn dập vỗ về bờ cát trắng hay chỉ là những con người chân phương hiện lên đầy chất phác đến đáng yêu. Là một làn gió không mấy xa lạ, nhưng sức sống mà nhà thơ ấy thổi vào đem đến một làn gió mới mẻ gợi những rung cảm sâu xa cho người đọc. Bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo của nhà thơ Trần Đăng Khoa là một “bài ca” như vậy.
Thơ là cuộc hôn phối giữa con người và vũ trụ. Thơ luôn tìm về với cuộc sống, thơ ở trong cuộc sống nên “Nhà thơ tuy chẳng muốn, cũng thấy mình bị ràng buộc vào biến chuyển lịch sử”_ John Perse. Như vậy dù ý thức hay vô thức, thơ vẫn chảy trong biển lớn của cuộc đời và nhà thơ không thể đứng ngoài dòng chảy ấy. Hơn ai hết họ là người cảm nhận cuộc sống mãnh liệt nhất, tinh tế nhất. Trần Đăng khoa đứng trong dòng chảy của thời đại để cất lên những vần thơ trong trẻo bình dị mang đến sức rung cảm mãnh liệt cho người đọc. Bài thơ viết về những người lính trên quần đảo Trường Sa vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX. Tuy cuộc sống của họ còn thiếu thốn về vật chất, sống với điều kiên khắc nghiệt… nhưng tâm hồn họ thì vô cùng lạc quan, yêu đời. Họ cất cao lời hát của tự do của tâm hồn, bài hát của tình yêu tổ quốc tình yêu quê hương đất nước. Dù chưa biết “người thương” ở phương nào, họ vẫn khát khao và mộng tưởng, họ khẳng định tình yêu thủy chung như muối mặn của mình dẫu chưa hề biết “bóng dáng nào sẽ đến” với họ. Có thể nói, họ thiếu thốn cả về vật chất và tình cảm. Chỉ có tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước thì luôn chan chứa trong tim.
“Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió trường sa”
Trần Đăng Khoa được biết đến là nhà thơ viết nhiều về thiếu nhi và những sáng tác của ông dành nhiều cho thiếu nhi đã tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng của ông. Nhưng điều đó không có nghĩa là những sác tác của ông ở ngoài vùng sở trường lại mờ nhạt, nghèo nàn. Nếu ta đã quen với hình ảnh chú bộ đội cụ hồ xuất thân từ những người nông dân chân chất trong bài thơ Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu hay những chàng thanh niên yêu nước đi theo tiếng gọi của tổ quốc trong bài thơ Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cùng hát chung khúc hát về người lính, “lính đảo hát tình ca trên đảo” mang một giọng văn riêng, âm sắc riêng – thật mới mẻ và đặc sắc giữa cõi văn chương. Vẫn là những anh lính đảo sống giữa muôn trùng sóng nước thiếu thốn đủ bề mà luôn lạc quan, yêu đời. Khổ thơ đầu tiên mở ra cho ta thấy về những buổi liên hoan văn nghệ của người lính đảo. Người lính đâu chỉ có khô cằn cứng nhắc trong điều lệ, nội quy, họ cũng có lúc bay bổng, thăng hoa trong lời ca tiếng hát. Với tâm hồn lồng lộng biển khơi, yêu đời, yêu cuộc sống, người lính đã tự làm sinh động cho nhịp sống thường nhật buồn tẻ chốn hoang sơ củ mình bằng những giai điệu du dương, ngang tàng chất lính. Ta đã quen với một sân khấu với giàn âm thanh ánh sáng lộng lẫy, những vũ công diễn viên xinh đẹp thì ở nhưng người lính sân khấu của họ thật đặt biệt. Sân khấu của họ chẳng cầu kì như lẽ thường phải thế. Sân khấu của họ được kê bằng đá san hô, còn cánh gà chôn mấy tấm tôn tạm bợ. Họ trang trí nơi biểu diễn nghệ thuật bằng những thứ chẳng có tính nghệ thuật – những thứ vốn có sẵn trong cuộc sống thường ngày. Điều đó nói lên rất nhiều những thiếu thốn, gian khổ của người lính chốn biển đảo xa xôi. Đất nước mình những năm 80 còn khó khăn vất vả gấp bội phần. Những thiếu thốn ấy đã được những chàng lính yêu đời, lạc quan biện luận bằng một lí do rất chân thực. Theo lời phân trần của người lính, thì sự tạm bợ của họ không hẳn vì họ không có phông màn trang trí cho sân khấu mà vì: “chẳng phông màn nào chịu nổi gió trường sa” thật dễ thông cảm biết bao với cái lí do bất khả kháng ấy. Đọc câu thơ này của ông ta chợt nhớ đến bài thơ Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật:
“ Xe không kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi..”
Những con người lạc quan luôn nhìn thấy trong khó khăn những điều thú vị như vật đó.
Qua sự phân trần của những người lính, người đọc mới hiểu hơn về một Trường Sa khắc nghiệt đến bội phần:
“Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng
Sỏi cát bay như lũ chim hoang
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…”
Lời thơ như khắc họa trong tâm trí người đọc một trường sa đầy nắng và gió. Gió mang cảm giác bỏng rát trên mặt trần, gió tùng sỏi cát như lũ chim hoang, gió làm biến đổi hình dạng của đảo mỗi ngày… hai câu thơ giàu sức gợi mang đến những những cảm nhận có phần khá lạ lẫm trong lòng người đọc về thiên nhiên trường sa, bởi không phải ai cũng từng được trải nghiệm sức mạnh khủng khiếp của nắng gió nơi đây. Cuộc sống mỗi ngày phải đối diện với khó khăn, vất vả thế nhưng thật thú vị, người lính nói về đièu đó một cách thản nhiên, bình thản như đó là một phần hương vị của cuộc sống, không có gì đáng bận tâm. Họ không lấy điều đó làm phiền, ngược lại họ vẫn sống lạc quan yêu đời.
“Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…”
Người lính bỏ lại tất cả sau lưng những khó khăn để vui sống mỗi ngày. Niềm vui ấy là cùng các chiến hữu cất cao lời hát, niềm vui ấy không cầu kì mà đậm chất lính. Sự phối hợp hài hòa đối lập nhau giữa hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt trong những câu thơ trên và tâm hồn phơi phới của những chàng lính là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Trần đăng khoa đã mượn gian nan, khắc nghiệt của cuộc sống làm đòn bẩy nâng cao vẻ đẹp tinh thần lạc quan, yêu đời của những người lính. Cách nói mây nước mở màn của nhà thơ thật lạ, thật thú vị. Màn ở đây là màn sân khấu. Sân khấu dựng giữa đất trời mênh mông nên mấy nước mở màn là một liên tưởng độc đáo. Sân khấu ấy thiế phông màn vải vóc sặc sỡ, được thay bằng mây nước biển khơi.
“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau
Những lúc vui cứ gọi đùa sư cụ
Là bà con xa với bụt ốc đây mà
Thôi lặng yên nghe. Có gì đang đang sóng sánh
Hóa ra là sư cụ hát tình ca”
Sự khắc nghiệt của thiên nhiên không chỉ cản trờ người lính trong hoạt động nghệ thuật nữa mà còn khiến cho những người lính ấy phải cạo trọc đầu để chống chọi lại sự thiếu thốn ấy. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy thứ còn quý hơn vàng có lẽ là nước ngọt. Một tài nguyên ta cho là tầm thường và hiện hữu quanh ta nên ta chẳng biết quý trọng. Chỉ khi ta đặt mình vào vị trí của những người lính ấy bốn bể đèo là cát trắng và nước biển mặn chát là gió rít từng hồi rát cả da thịt… ta mới hiểu được câu thơ “Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc” những anh chàng đầu trọc khiến ta liên tưởng tới những người lính đầu trọc trong tây tiến của Quang Dũng:
“Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữu oai hùm…”
Đều là những khó khăn xuất phát từ hoàn cảnh, nhưng ý chí kiên cường của người lính có lẽ còn cứng rắn hơn bất kì thứ gì khác. Diễn viên và khán giả ở đây đều là những anh chàng “trọc đầu” trông thật tếu. Những người thanh niên ấy đã hi sinh tuổi trẻ, thanh xuân của mình để bám trụ lại nơi địa cùng tổ quốc để giữ yên từng tấc đất nơi đây. Họ cũng như chúng ta, họ cũng biết làm đẹp cho bản thân chứ, ai lại muốn “đầu trọc” bao giờ, nhưng bởi vì nước ngọt ở đảo trường sa ấy còn khan hiếm lắm đâu chỉ dùng để tắm gội thôi đâu mà còn để uống để sinh hoạt nấu nướng.Điều kiện sống của những người làm nhiệm vụ ở Trường Sa còn có quá nhiều thiếu thốn, gian khổ, đến mức khắc nghiệt. Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ ở đây còn nhiều khó khăn: thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh, thiếu văn công và các hoạt động nghệ thuật. Nhưng, ở nơi đầu sóng ngọn gió, hàng ngày, thậm chí hàng giờ, những người lính canh biển luôn trong tư thế sẵn sàng. Không có sự yếu lòng trước những thử thách của cuộc sống. Khó khăn vất vả là vậy tình đồng chí đồng đội luôn thắp sáng và sưởi ấm con tim của những người cầm súng bảo vệ nơi đầu sóng. Họ biết yêu thương nhau, tạo niềm vui cho cuộc sống của mình. Họ cùng nhau lắng nghe khúc tình ca của biển cả, những cơn sóng ôm ấp chồng lên nhau tạo nên một giai điệu rất riêng mà có lẽ chỉ những người sống trên vùng đất này mới cảm nhận hết được vẻ đẹp này. Biển hiền hòa êm dịu, biển êm đềm khúc hát…. mãi mãi khúc tình ca. Con người và thiên nhiên hòa làm một, con người là trung tâm của vũ trũ và thiên nhiên là nền trời cho con người tỏa sáng. Khúc hát rì rầm ấy khi nghe người ta cũng chẳng biết được là trái tim của người lính đang thổn thức hay là lời thì thầm của biển cả.
Hơn bao giờ hết, bản tình ca này đặc biệt hơn thế:
“Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi
Đêm buông xuống nhình nhau không rõ nữa
Cứ ngỡ như đảo đá cất thành lời…”
Đâu chỉ những nốt nhạc mới làm nên giai điệu, đôi khi chỉ là tiếng du dương rầm rì của sóng vỗ lao xao của gió biển lay đưa hàng dừa ….. chúng hòa trộn vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng đậm hương vị mặn mà của biển. Nói đến giai điệu, chắc hẳn ai cũng nghĩ rằng nó sẽ là sự êm ả vui tai, nhẹ nhàng mà trầm lắng nhưng với Trần Đăng Khoa giai điệu được ví ngang tàng như sóng biển. Lời ca ấy không chỉ là yêu đời, một tinh thần lạc quan mà còn chứa đựng một nỗi nhớ và tình thương sâu nặng. Lời ca nào mà chẳng có tình yêu, huống chi đó là lời ca xuất phát từ con tim của người chiến sĩ. Làm nhiệm vụ xa nhà chắc hẳn các anh rất nhớ đất liền. Nhưng tạm gác lại nỗi nhớ nhiệm vụ mà các anh gánh vác trên vai còn cao cả hơn thế. Đêm buông xuống, màn nhung đen phủ kín bầu trời chẳng còn nhìn rõ được gì nữa. Chỉ có tiếng hát là vang vọng mãi biển xa. Tiếng vỏ ốc va vào nhau sau từng đợt sóng được nhà thơ nhân hóa lên thành vỏ ốc cất lời làm cho lời như sống dậy, sinh động hơn.
“Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng. Hàng cây cũng tươi xinh
Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ
Và tay mình lại nắm lấy tay mình
Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?
Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được
Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh?
Trông bốn phía chỉ âm u mây nước”
Ở độ tuổi đẹp nhất đời người, đôi mươi sung sức có lẽ các anh chiến sĩ nơi đây cô đơn lắm vì chẳng ở gần người thương. Họ ao ước vào những đêm trăng sáng, được năm tay người mình yêu đi dạo, được ngắm nhìn khuôn mặt dịu dàng của em dưới ánh sáng lấp ló qua hàng cây… thật lung linh tuyệt đẹp. Nhưng khi mở mắt ra, mọi ao ước đều ảo mộng mơ phai, chỉ nghe bên tai tiếng sóng vỗ rì rào. Và tay mình lại nắm lấy chính tay mình. Khó khăn cô đơn là thế nhưng họ vẫn rất lạc quan, họ vẫn mong chờ người mình yêu đang ở một nơi nào đó đợi mình. Người ấy ở đâu, như thế nào cũng chẳng biết nữa chỉ biết là khi mở mắt ra, bốn phía bao quanh mình đều là mây nước lồng lộng.
“Nào hát lên cho mấy nước biết
Rằng chúng ta là những con người
Yêu em thủy chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai…
Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này”
Dù ở hoàn cảnh nào, dù gặp khó khăn gì họ vẫn cất cao tiếng hát của tâm hồn, một tâm hồn cao cả và đa cảm. Dù chưa biết mai này mình sẽ yêu ai, chưa biết chủ nhân của bức thư tình là người nào nhưng các anh vẫn trung trinh một tấm lòng chung thủy. Lời hát cất lên như một lời thề son sắt, tình yêu vẫn còn trong tim dù là đứng trong đêm tối mịt mù tình yêu sẽ là ánh sáng dẫn đường , các anh vẫn sẽ ở đây, bảo vệ cho khoảng trời thân yêu này bởi Việt Nam bắt đầu tại nơi đây. Điệp lại cấu trúc thơ: “Nào hát lên; Rằng chúng ta, Rằng tình yêu”. Phép điệp cấu trúc giúp hai khổ thơ liên kết gần gũi, dễ đọc dễ nhớ giống đoạn điệp khúc của một bài hát.
“Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu…”
Khúc tình ca ấy vẫn mãi ngân vang, bỗng chừng lại như một bản nhạc đang cao trào lên quãng 8 thì trầm xuống đến lắng đọng lòng người. Cảm xúc thăng hoa của tác giả như gặp điều gì đó bỗng trầm lắng xuống. Ngoài mép biển kia có gì đáng để nhà thơ phân tâm. Kết thúc bài thơ là một câu cảm thán mang ngữ khí bất ngờ, đặc biệt: “Ồ, hóa ra toàn những đá trọc đầu…”, thể hiện thái độ bất ngờ về sự xuất hiện của những người lính đảo. Họ được ví như những hòn đá, chịu nắng chịu mưa để bảo vệ cho an nguy tổ quốc. Họ hi sinh thầm lặng, gạt bỏ những nỗi lòng riêng để cùng phục vụ cho một mục đích cao cả hơn hết đó chính là sự yên bình của đất nước nơi đầu sóng ngọn gió.
Với ngôn ngữ thơ mộc mạc, tự nhiên pha chút đùa vui hóm hỉnh, những hình ảnh so sánh đối lập khá lạ. Bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo là một bài ca hùng tráng về người chiến sĩ hải quân ở Trường Sa. Qua vài nét phác họa đơn sơ của nhà thơ Trần Đăng Khoa ta có thể cảm nhận được những khó khăn, vất vả, thiếu thốn của người lính nơi biển đảo xa xôi ấy cũng như vẻ đẹp của tinh thần bất khuất, lạc quan yêu đời của họ. Tình cảm ưu ái và ngưỡng mộ của nhà thơ Trần Đăng Khoa dành cho họ cũng theo lời thơ mà bộc một cách tự nhiên, chân thành.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 4
Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa là một bài thơ hay, để lại ấn tượng sâu sắc từ khi ra đời cho đến nay. Từ cầu tứ, hình ảnh, giọng điệu, tất cả đọc lên cứ vừa tếu táo, bông đùa nhưng lại cảm thương sâu sắc về cuộc đời người lính biển. Họ trở thành tượng đài bất khuất giữa trùng khơi, như một minh chứng cho lòng quả cảm, sự kiên cường của một dân tộc chưa bao giờ khuất phục, sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tình ca và hùng ca, hóm hỉnh và lắng đọng, trần trụi và đầy suy tư,... là những trạng thái cảm xúc hài hoà, gắn kết xuyên suốt bài thơ [...] Qua đó, khơi dậy niềm tự hào và tình yêu biển đảo đối với thế hệ trẻ, nhất là ca ngợi vẻ đẹp hào hùng của người lính biển trong vai trò bảo vệ chủ quyền đất nước trong giai đoạn hiện nay.”.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 5
Bài thơ viết về những người lính trên quần đảo Trường Sa vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX. Tuy cuộc sống của họ còn thiếu thốn về vật chất, sân khấu xếp bằng đá san hô, cánh gà chôn bằng mấy tấm tôn, ca sĩ toàn là những anh chàng đầu trọc (họ phải cạo trọc đầu để tiết kiệm nước ngọt vệ sinh)... nhưng tâm hồn của họ thì vô cùng lạc quan, yêu đời. Họ cất cao lời ca tiếng hát, những tiếng hát ngang tàng, toàn nhớ với thương. Dù chưa biết "người thương" ở phương nào, họ vẫn khát khao và mộng tưởng, họ khẳng định tình yêu thủy chung như muối mặn của mình dẫu chưa hề biết "bóng dáng nào sẽ đến" với họ. Có thể nói, họ thiếu thốn cả về vật chất và tình cảm. Chỉ có tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước thì luôn chan chứa trong tim.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 6
Trần Đăng Khoa được người đời ngợi ca và mệnh danh là "Thần đồng thơ ca". Với ngôn từ mộc mạc, hình ảnh thân quen, những sáng tác của ông dễ dàng đi sâu vào tâm trí và trái tim người đọc. Trong đó, chúng ta không thể bỏ qua tác phẩm "Lính đảo hát tình ca trên đảo". Bài thơ đã mang tới những hình ảnh chân thực về cuộc sống sinh hoạt của người lính nơi đầu sóng ngọn gió.
Mở đầu bài thơ, Trần Đăng Khoa trực tiếp đưa độc giả đến với khung cảnh:
"Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà"
Ngoài đảo, mọi thứ đều khan hiếm, thiếu thốn đủ đường. Vậy nên, sân khấu chỉ được lắp ghép, chắp vá tạm bợ bởi "đá san hô" mà thôi. Phía cánh gà cũng được tạo nên từ vài tấm tôn. Có thể thấy, chỉ với hai câu thơ ngắn gọn, nhà thơ đã gợi lên cuộc sống khó khăn của những người lính đảo. Cuộc sống ấy còn bị ảnh hưởng nặng nề từ thiên nhiên khắc nghiệt:
"Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi Trường Sa"
Cách xưng hô thân mật "em", "bọn chúng anh" cho thấy sự gắn kết giữa con người. Người lính nói bằng giọng điệu hết sức nhẹ nhàng, như thể đây chỉ là một câu chuyện nhỏ nhẹ, không đáng quan tâm. Câu thơ giống như lời tâm sự thủ thỉ, lời lí giải nhẹ nhàng cho hoàn cảnh. Đồng thời, khéo léo nhấn mạnh vào ý chí, bản lĩnh của những người dám đương đầu với sóng to, gió lớn nơi biển đảo.
Dẫu thiếu thốn vật chất, điều kiện tự nhiên hà khắc, người lính vẫn nở nụ cười lạc quan:
"Gió rát mặt, Đảo luôn thay hình dáng
Sỏi cát bay như lũ chim hoang
Cứ mặc nó. Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn"
Sống giữa biển trời mênh mông, người lính hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với biết bao gian khổ. Nào là những lần gió thổi rát mặt. Nào là những trận bão cát sỏi bay điên cuồng. Thế nhưng, họ chẳng lấy làm để tâm. Câu nói "Cứ mặc nó" cho thấy phong thái bình thản, ung dung của người lính đảo. Dường như, những khó khăn ấy không còn là nỗi bận tâm, lo lắng nữa rồi. Giờ đây, họ dành hết tâm trí cho chiếc sân khấu "có một không hai" - "mây nước mở màn" với đội ngũ biểu diễn và khán giả đặc biệt:
"Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm không lẽ dành gội tóc
Lính già lính trẻ đều trọc tếu như nhau"
Khổ thơ bốn dòng nhưng có đến ba từ "trọc" đã nhấn mạnh vào vẻ bề ngoài đặc trưng những chàng lính đảo. Ngoài đảo, nước ngọt khan hiếm vô cùng. Vì thế, họ không nỡ dùng nguồn nước quý giá đó để gội đầu. Từ lính mới đến lính cũ, lính già đến lính trẻ, ai ai cũng đồng lòng. Họ bảo nhau cắt đi mái tóc, biến mình thành "chàng đầu trọc" nhằm tiết kiệm những giọt nước tinh khiết. Bằng giọng điệu hóm hỉnh, Trần Đăng Khoa đã khắc họa nên một bức tranh chân thực về đời sống của lính đảo, tuy khó khăn nhưng không bi lụy. Từ chính cái khổ cực ấy, họ biến chúng thành niềm vui: "Có lúc vui cứ gọi đùa sư cụ/ Là bà con xa với bụt ốc đây mà", "Hóa ra là sư cụ hát tình ca".
Giữa không gian bao la, mây trời sóng nước lồng bóng, người lính đảo được ví như "sư cụ" cất lên khúc hát đặc biệt:
"Những giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi"
Nếu như giai điệu mạnh mẽ, ngang tàn như gió biển thổi thì lời ca lại nhẹ nhàng, tha thiết nỗi nhớ thương. Một bản tình ca độc đáo, mới lạ, chỉ có riêng ở người lính đảo. Hòa theo nhịp điệu, những chàng lính cất lên câu hát tâm tình, chan chứa yêu thương "Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo", "Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?". Mượn lời ca, họ khéo léo bày tỏ tình cảm chân thành "Rằng chúng ta là những con người/ Yêu em thủy chung hơn muối mặn/ Dù thư tình chưa biết gửi cho ai". Có thể thấy, người lính đảo hiện lên thật chân thực với nét tính cách lạc quan, nhí nhảnh, tâm hồn trong sáng. Giống như bao người, các chàng trai ấy cũng có trái tim khao khát hạnh phúc và tình yêu đôi lứa.
Bản tình ca đằm thắm ấy còn là khúc hát say sưa về Tổ quốc thân yêu:
"Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây
Ta đứng vững giữa muôn trùng sóng gió|
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu từ nơi này..."
Trên tất cả, trong trái tim thổn thức từng nhịp đập, tình yêu đất nước vẫn nóng bỏng hơn bao giờ hết. Nó chính là ngọn lửa tiếp thêm nhiệt huyết, là điểm tựa tiếp thêm sức mạnh cho những người lính. Giữa muôn trùng sóng gió của biển cả, người lính đảo luôn vững vàng chắp tay súng, bảo vệ từng tấc đất của nước nhà. Để rồi, thông qua đó, khẳng định đất nước bắt nguồn từ chính những vùng đất xa xôi mà thiêng liêng này.
Bài thơ kết thúc với hình ảnh ấn tượng:
"Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển người đâu lên đông thế
Ồ, hóa ra toàn những đá trọc đầu..."
Khổ thơ cuối vẫn là giọng điệu hóm hỉnh, vui tươi và tếu táo giống các phần trước. Khi thủy triều rút, những tảng đá bóng nhẵn như cái đầu trọc lộ lên khỏi mặt nước. Có thể thấy, điều kiện sống thật cực khổ làm sao!
Bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, dễ hiểu; hình ảnh thơ gần gũi, quen thuộc, nhà thơ đã đem đến cho người đọc những hình dung cụ thể, chi tiết về đời sống nơi hải đảo xa xôi, hiểm trở. Việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ như so sánh "Những giai điệu ngang tàn như gió biển", điệp ngữ "Nào hát lên cho",... cũng góp phần khắc họa thành công hình ảnh người lính đảo. Họ là những con người lạc quan, yêu đời, đầy mơ mộng với cuộc sống. Chính họ đã và đang từng ngày, từng giờ bảo vệ chủ quyền nước nhà.
Không màu mè, hoa mĩ, "Lính đảo hát tình ca trên đảo" là những vần thơ hết sức nhí nhảnh, vui tươi. Trần Đăng Khoa thật khéo léo khi khai thác đề tài người lính từ điều bình dị và thân thuộc. Qua tác phẩm này, ta càng thêm trân trọng, biết ơn công lao to lớn của thế hệ đi trước.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 7
Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã rất khéo léo và tài tình khi khắc họa hình ảnh vui tươi, hóm hỉnh và đầy nhiệt huyết của những người lính đảo trong bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo”. Nhà thơ đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc cùng cách viết tinh tế, nhờ đó mà ông đã viết nên một tác phẩm hay và sâu sắc.
Bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo” đưa chúng ta đến sân khấu của những người lính đảo. Sân khấu này được dựng nên bởi đá san hô và vài tấm tôn, tạo nên một không gian thiếu thốn, tạm bợ. Nhưng trên sân khấu này, người biểu diễn và khán giả là những chàng trai đầu trọc, những người sống ở nơi đảo xa xôi. Họ cùng nhau tạo nên những buổi biểu diễn, không chỉ để giải trí mà còn coi đó như những kỉ niệm khó phai trong cuộc đời người lính. Đối diện với sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên nhiên, những người lính không hề tỏ ra sợ sệt mà luôn lạc quan, yêu đời. Dù vẻ đẹp ngoại hình không được đẹp nhưng họ có tấm lòng, tâm hồn phong phú, trong sáng và lãng mạn.
“Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió trường sa”
Hình ảnh của người lính đảo được tác giả vẽ nên rất đặc biệt. Đầu trọc lốc của họ được ví như sư cụ “Là bà con xa với bụt ốc đây mà”, tạo nên giọng thơ hóm hỉnh, nhí nhảnh và vui tươi. Những bản tình ca mà họ hát lên cũng mang đến sự đối lập, trái ngược. Giai điệu ngang tàn, mạnh mẽ như gió biển thổi, trong khi lời ca lại nhẹ nhàng, da diết những lời thương yêu, nhớ nhung. Người lính đảo trong bài thơ không chỉ là những con người bình thường, mà họ còn có nội tâm phong phú, trái tim khao khát hạnh phúc và tình yêu đôi lứa.
“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau
Những lúc vui cứ gọi đùa sư cụ
Là bà con xa với bụt ốc đây mà
Thôi lặng yên nghe. Có gì đang đang sóng sánh
Hóa ra là sư cụ hát tình ca”
Từ lời ca dành cho người thương, những người lính tiếp tục cất lên khúc hát về quê hương, đất nước. Giữa muôn trùng sóng gió, tình yêu Tổ quốc chưa bao giờ phai nhạt. Họ khẳng định rằng đất nước bắt nguồn từ chính những vùng đất xa xôi, từ những người lính đảo. Tình yêu đất nước và lòng trung thành không biên giới của họ hiện lên rõ nét qua những câu thơ chất phác và sâu lắng.
“Nào hát lên cho mấy nước biết
Rằng chúng ta là những con người
Yêu em thủy chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai…
Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này”
Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo” không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở ngôn ngữ trong sáng, giản dị và vô cùng dễ hiểu. Tác giả sử dụng hình ảnh thơ gần gũi, quen thuộc để tạo ra sự gần gũi và chân thực trong lòng người đọc. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thành công các biện pháp tu từ như so sánh “Những giai điệu ngang tàn như gió biển” và điệp ngữ “Nào hát lên cho”, để làm nổi bật và tăng cường cảm xúc trong bài thơ.
Bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo” của Nguyễn Khoa Điềm là một tác phẩm đáng kính và đáng ngưỡng mộ. Tác giả đã thành công trong việc khắc họa hình ảnh người lính đảo với tình yêu đất nước và lòng trung thành vượt bao biên giới. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ trong sáng, hình ảnh thơ gần gũi và các biện pháp tu từ đã tạo nên một tác phẩm đầy cảm xúc và ý nghĩa. Bài thơ này là một lời ca tha thiết yêu thương đến những người lính, những người anh hùng của quê hương.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 8
Trần Đăng Khoa là một cây bút giàu cảm xúc, nổi bật với khả năng kết hợp giữa chất trữ tình và hiện thực đời sống. Bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về người lính nơi biển đảo xa xôi. Qua bức tranh sinh hoạt độc đáo và giàu chất thơ, tác giả đã khắc họa hình tượng người lính đảo vừa kiên cường, lạc quan, vừa giàu tình cảm, mang trong mình tình yêu sâu nặng với con người và Tổ quốc.
Trước hết, bài thơ mở ra một “sân khấu” đặc biệt của những người lính đảo – nơi điều kiện sống còn vô cùng thiếu thốn, khắc nghiệt. Sân khấu ấy được dựng lên từ “đá san hô” và “vài tấm tôn”, một không gian tạm bợ đến mức chính người trong cuộc cũng tự nhận:
“Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa”.
Những câu thơ vừa chân thực vừa hóm hỉnh đã cho thấy hoàn cảnh sống gian khổ nơi đảo xa. Thiên nhiên ở đây không hiền hòa mà đầy dữ dội: “gió rát mặt”, “đảo luôn thay hình dạng”, “đá củ đậu bay như lũ chim hoang”. Tuy nhiên, đối diện với tất cả những thử thách ấy, người lính không hề nao núng mà vẫn giữ tinh thần lạc quan:
“Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu
Ta bắt đầu thôi”.
Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó, vẻ đẹp tinh thần của người lính càng được tôn lên rõ nét.
Hình ảnh người lính đảo hiện lên với nét độc đáo, gần gũi và đầy chất đời thường. Họ là những “chàng đầu trọc”, “lính trọc đầu” - chi tiết tưởng như hài hước nhưng lại phản ánh thực tế thiếu nước ngọt nơi đảo xa. Không có điều kiện chăm sóc bản thân, họ chấp nhận vẻ ngoài giản dị, thậm chí có phần “tếu táo”. Những tiếng gọi đùa như “sư cụ”, “bà con xa với bụt ốc” càng làm nổi bật tinh thần lạc quan, dí dỏm của họ. Đằng sau tiếng cười ấy là sự gắn bó, sẻ chia giữa những con người cùng chung hoàn cảnh. Chính sự hồn nhiên, vui tươi đã giúp họ vượt qua nỗi cô đơn và gian khó nơi đầu sóng ngọn gió.
Điểm đặc sắc của bài thơ nằm ở “bản tình ca” mà những người lính cất lên giữa biển trời bao la. Giai điệu của nó “ngang tàng như gió biển” – mạnh mẽ, phóng khoáng, mang đậm chất lính đảo. Nhưng trái ngược với giai điệu ấy, lời ca lại “toàn nhớ với thương thôi”, chan chứa nỗi niềm tình cảm. Đó là nỗi nhớ về người yêu, về những khoảnh khắc bình dị:
“Có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng…”.
Giấc mơ về tình yêu trở nên mong manh, xa vời giữa không gian “bốn phía chỉ âm u mây nước”. Họ không biết người yêu mình là ai, “các em cao hay lùn”, nhưng vẫn giữ trong tim một tình yêu thủy chung, son sắt. Điều đó cho thấy vẻ đẹp tâm hồn phong phú, khát khao hạnh phúc rất đời thường của những người lính trẻ.
Không dừng lại ở tình yêu đôi lứa, bài thơ còn nâng tầm cảm xúc lên thành tình yêu Tổ quốc thiêng liêng. Những câu thơ: “Nào hát lên cho mấy nước biết / Rằng chúng ta là những con người” và đặc biệt “Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này” mang ý nghĩa khẳng định mạnh mẽ chủ quyền biển đảo. Giữa không gian mênh mông của biển cả, người lính vẫn hiên ngang, kiêu hãnh, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình. Họ không chỉ là những con người bình thường mà còn là những người đang ngày đêm gìn giữ từng tấc đất, tấc biển của quê hương.
Bài thơ còn gây ấn tượng bởi sự kết hợp hài hòa giữa chất hiện thực và chất lãng mạn. Hiện thực được thể hiện qua những chi tiết rất đời thường: thiếu nước ngọt, gió biển khắc nghiệt, đời sống sinh hoạt giản đơn. Nhưng trên nền hiện thực ấy, chất lãng mạn lại thăng hoa qua tiếng hát, qua những ước mơ, qua tình yêu và niềm tin. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, giàu khẩu ngữ cùng giọng điệu khi hóm hỉnh, khi sâu lắng đã góp phần làm nổi bật hình tượng người lính đảo. Đặc biệt, thủ pháp đối lập giữa hoàn cảnh khắc nghiệt và tâm hồn lạc quan, giữa giai điệu mạnh mẽ và lời ca dịu dàng đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm.
Kết thúc bài thơ là một chi tiết bất ngờ và giàu ý nghĩa:
“Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu...”.
Hình ảnh những “đá trọc đầu” như hòa vào hình ảnh người lính, tạo nên sự đồng điệu giữa con người và thiên nhiên. Người lính như trở thành một phần của đảo, của biển, của Tổ quốc – vững vàng, kiên cường trước sóng gió.
Có thể nói, Lính đảo hát tình ca trên đảo là một bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Qua đó, Trần Đăng Khoa đã khắc họa thành công hình tượng người lính đảo vừa bình dị, gần gũi, vừa cao đẹp, lớn lao. Bài thơ không chỉ ca ngợi tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường mà còn làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn và tình yêu Tổ quốc thiêng liêng của họ. Đây chính là một tiếng ca đầy xúc động về những con người đang ngày đêm canh giữ biển trời quê hương.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 9
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, hiếm có bài thơ nào về người lính biển lại vừa chân thực đến trần trụi, vừa lãng mạn đến mê say như Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa. Không tô hồng hiện thực, cũng chẳng bi lụy hóa gian khổ, nhà thơ đã khắc họa thành công bức chân dung tinh thần của những người lính Trường Sa - những con người “đứng vững trên đảo xa sóng gió” bằng cả trái tim yêu thương và ý chí sắt đá. Bài thơ là một bản hòa ca độc đáo giữa tiếng hát tình yêu đôi lứa và khúc tráng ca về Tổ quốc, giữa cái tạm bợ của vật chất và cái vĩnh hằng của tâm hồn.
Ngay từ những khổ thơ đầu, Trần Đăng Khoa đã dựng lên một bối cảnh hiện thực khốc liệt, thiếu thốn đến tận cùng. Sân khấu của buổi “hát tình ca” không phải là phông màn lộng lẫy mà là Đá san hô kê lên thành sân khấu và Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà. Hình ảnh Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa vừa hài hước, vừa chua xót, khắc họa sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đầu sóng ngọn gió. Không dừng lại ở đó, gió còn rát mặt, đảo luôn thay hình dạng, đá củ đậu bay như lũ chim hoang – những hình ảnh so sánh độc đáo, giàu sức gợi đã phác họa chân thực cuộc sống gian nan, thiếu ổn định của người lính trên đảo. Vậy mà, giữa cái “tạm bợ” ấy, giữa “gió rát mặt” và “đá bay” ấy, lời mời gọi Nào hỡi các chiến hữu / Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn... vang lên thật hào sảng, phớt đời. Cái khó khăn, thiếu thốn không thể lấn át được tinh thần lạc quan, sự trẻ trung và nhu cầu hướng về cái đẹp, cái yêu thương của những trái tim lính.
Đặc biệt, chất lính ấy còn được khắc họa đậm nét qua hình tượng những “anh đầu trọc”. Đây có lẽ là chi tiết vừa hài hước vừa xúc động nhất bài thơ. Lý do cho mái đầu trọc thật thấm thía: Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc. Câu thơ như một lời giải thích hóm hỉnh, nhưng đằng sau tiếng cười là cả một sự hy sinh thầm lặng, một sự thích nghi với điều kiện khắc nghiệt. Hình ảnh Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau và tiếng gọi đùa sư cụ tạo nên một không khí thân tình, gần gũi, xóa nhòa mọi khoảng cách. Và chính những con người tưởng chừng như khô khan, cứng nhắc ấy, những “sư cụ” nơi đầu sóng lại cất lên tình ca. Sự đối lập giữa ngoại hình trần trụi, góc cạnh và nội tâm mềm mại, đa cảm đã tạo nên một vẻ đẹp kép: vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng và vẻ đẹp của một tình yêu mãnh liệt, trong sáng.
Nếu những khổ thơ đầu là sự chuẩn bị cho sân khấu và diễn viên, thì đến phần sau, tiếng hát thực sự cất lên và trở thành dòng chảy xuyên suốt. Đó là Cái giai điệu ngang tàng như gió biển / Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi. Hai câu thơ đã khái quát bản chất của bản tình ca lính đảo: bên ngoài mạnh mẽ, phóng khoáng là thế, nhưng bên trong lại chan chứa những rung động yêu thương, nhung nhớ. Nỗi nhớ ấy vụt sáng lên trong tưởng tượng:
Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng.
Hàng cây cũng tươi xinh.
Đó là một không gian yên bình, lãng mạn, hoàn toàn đối lập với thực tại giông bão. Sự xuất hiện của Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ / Và tay mình lại nắm lấy tay mình là một phát hiện đầy ám ảnh: giữa những cơn sóng dữ, người lính chỉ có thể nắm tay chính mình, tự an ủi chính mình trong tình yêu đơn phương, dang dở. Câu hỏi tu từ đầy xót xa Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào? cùng với sự bất định Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh? đã diễn tả chân thực nỗi khao khát yêu thương, sự cô đơn và cả những trăn trở rất người của tuổi trẻ nơi đảo xa. Họ yêu một cách trừu tượng, yêu một bóng hình chưa rõ mặt, yêu một tình yêu của tương lai, đó vừa là sự hy sinh, vừa là một thứ lãng mạn tuyệt vời.
Đoạn kết của bài thơ là sự chuyển hóa đầy ngoạn mục từ “tình ca” thành “hùng ca”. Từ tiếng hát dành cho “các em”, người lính vút lên tiếng hát thách thức, khẳng định:
Nào hát lên cho mấy nước biết
Rằng chúng ta là những con người
Yêu em thủy chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai....
Câu thơ như một cột mốc chói lọi giữa mênh mông sóng nước, khẳng định ý nghĩa thiêng liêng của sự hy sinh, của việc giữ từng tấc đảo, ngọn sóng. Tình yêu đôi lứa hòa vào tình yêu Tổ quốc, nâng đỡ cho nhau, làm cho tình yêu thêm đẹp và sự hy sinh thêm cao cả. Sự kết thúc bất ngờ Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu... vừa hóm hỉnh, vừa ám ảnh. Không có khán giả nào khác ngoài những người lính, không có bất kỳ sự hào nhoáng nào. Họ hát cho nhau nghe, hát cho đảo đá nghe, hát cho chính mình nghe. Cảnh tượng ấy tôn vinh vẻ đẹp của sự cô đơn, của lòng dũng cảm thầm lặng.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công bởi giọng điệu tự nhiên, pha chút hóm hỉnh, ngang tàng, rất đời, rất lính. Thể thơ tự do phóng khoáng, cách ngắt nhịp linh hoạt phù hợp với nhịp sóng, nhịp gió. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh thực tế (đá san hô, tấm tôn, nước ngọt hiếm, đầu trọc…) nhưng được tổ chức một cách nghệ thuật để tạo nên những liên tưởng độc đáo (đá củ đậu bay như lũ chim hoang, sư cụ hát tình ca…). Đặc biệt, bút pháp tương phản (thiếu thốn - lãng mạn, khô khan - đa cảm, tạm bợ - vĩnh hằng) đã được sử dụng triệt để, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn người lính.
Nhìn chung, Lính đảo hát tình ca trên đảo là một bài thơ hay và độc đáo của Trần Đăng Khoa. Bằng cách khai thác chất liệu hiện thực sống động, hài hước mà sâu sắc, nhà thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Trường Sa: những chàng trai trẻ dũng cảm, lạc quan, sống giản dị mà giàu khát vọng yêu thương, sẵn sàng gác lại những ước mơ riêng tư để làm chủ tình yêu lớn - tình yêu Tổ quốc. Bài thơ như một lời tri ân, một nắm tay thật chặt gửi ra đảo xa, nhắc nhớ rằng nơi đầu sóng ngọn gió ấy, vẫn có những trái tim đang rực cháy tình yêu và niềm tin.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 10
Nếu như thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thường tạc bức chân dung người lính gắn liền với súng đạn, khói lửa và những chiến công hiển hách, thì sau năm 1975, mảng đề tài này lại mở ra một khoảng trời mới: cuộc sống của những người lính thời bình nơi đầu sóng ngọn gió. Trong số đó, Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa hiện lên như một nốt nhạc trong trẻo, lạ kỳ và đầy ám ảnh. Viết về Trường Sa - mảnh đất của bão tố và nắng cháy, nhà thơ không chỉ mô tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn rạng rỡ, đầy chất nghệ sĩ và tinh thần lạc quan tếu táo của những người lính trẻ. Bài thơ thực sự là một bản tình ca độc đáo, nơi tình yêu lứa đôi hòa quyện cùng tình yêu Tổ quốc thiêng liêng.
Mở đầu bài thơ, Trần Đăng Khoa đưa người đọc đến với một “sân khấu” có một không hai. Đó không phải là nhà hát rực rỡ ánh đèn mà là một không gian thô mộc, góc cạnh như chính cuộc sống nơi Trường Sa:
“Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa.”
Lời phân trần “em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ” nghe thật hiền lành, chân chất mà cũng rất đáng yêu. Cái “tạm bợ” ấy không phải do sự qua loa, cẩu thả, mà là kết quả của sự thích nghi trước thiên nhiên khắc nghiệt. Ở nơi “gió rát mặt”, nơi “đá củ đậu bay như lũ chim hoang”, mọi thứ hào nhoáng đều trở nên vô nghĩa. Tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh giàu sức gợi để làm nổi bật sự dữ dội của gió biển. Nhưng ngay lập tức, thái độ của người lính hiện lên thật mạnh mẽ, chủ động: “Cứ mặc nó!... Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn...”. Thiên nhiên không còn là trở lực mà trở thành phông nền kỳ vĩ, đồng hành cùng con người trong buổi “biểu diễn” đặc biệt ấy.
Một trong những chi tiết gây ấn tượng sâu sắc chính là hình ảnh những người lính đảo với vẻ ngoài rất đỗi độc đáo:
“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc
Người xem ngổn ngang cũng... rặt lính trọc đầu.”
Hiện thực thiếu nước ngọt đến mức phải cạo trọc đầu được diễn tả bằng giọng điệu hóm hỉnh, tếu táo. Thay vì than thở, người lính lại tự trào, gọi nhau là “sư cụ”, là “bà con xa với bụt ốc”. Tiếng cười ấy không phải là sự dễ dãi mà là biểu hiện của một tinh thần lạc quan, vượt lên hoàn cảnh. Những “cái đầu trọc” lô nhô trên sân khấu và dưới hàng ghế khán giả tạo nên một hình ảnh vừa hài hước, vừa cảm động, cho thấy bản lĩnh kiên cường và tâm thế ung dung của những người lính nơi đầu sóng ngọn gió.
Trọng tâm của bài thơ là “bản tình ca” mà những người lính cất lên giữa biển trời bao la. Ở đây, tác giả đã tạo nên một sự đối lập đầy thú vị:
“Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi.”
Giai điệu mang vẻ mạnh mẽ, phóng khoáng như chính cuộc sống nơi biển đảo, nhưng nội dung lại chan chứa tình cảm, dịu dàng. Người lính hát về một người yêu chưa rõ hình hài, về những giấc mơ giản dị: một đêm trăng dắt em đi dạo, một cái nắm tay thân thuộc. Đặc biệt, hình ảnh “và tay mình lại nắm lấy tay mình” là một chi tiết rất đắt giá. Nó diễn tả nỗi cô đơn sâu thẳm của người lính, nhưng đồng thời cũng cho thấy khả năng tự tạo niềm vui, tự nuôi dưỡng hạnh phúc trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm. Giữa “bốn phía chỉ âm u mây nước”, họ vẫn giữ cho mình một thế giới riêng đầy mộng mơ và yêu thương, dù “thư tình chưa biết gửi cho ai”.
Từ những cảm xúc cá nhân, tiếng hát dần được nâng lên thành lý tưởng lớn lao:
“Nào hát lên cho đêm tối biết
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.”
Câu thơ “Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này” vang lên như một lời khẳng định thiêng liêng và đanh thép về chủ quyền biển đảo. Giữa trùng khơi xa xôi, mỗi người lính chính là một “cột mốc sống”, là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Tình yêu của họ không chỉ dành cho những “em” nơi đất liền, mà còn mở rộng thành tình yêu Tổ quốc - một tình cảm lớn lao, bền bỉ và thiêng liêng.
Khép lại bài thơ là một hình ảnh đầy chất thơ và giàu ý nghĩa:
“Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu...”
Phép nhân hóa đã biến những tảng đá san hô vô tri trở thành những “khán giả” đang lặng im lắng nghe. Dường như thiên nhiên Trường Sa cũng hòa nhịp, cũng xúc động trước tiếng hát của con người. Sự “nhầm lẫn” ấy tạo nên một cái kết bất ngờ mà sâu sắc, khẳng định mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa con người và thiên nhiên, giữa người lính và mảnh đất họ đang canh giữ.
Về phương diện nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, đậm chất đời lính; giọng điệu linh hoạt, khi hóm hỉnh, tếu táo, khi sâu lắng, lãng mạn, lúc lại hào hùng, trang trọng. Hệ thống hình ảnh sáng tạo, độc đáo như “đầu trọc”, “tay nắm tay mình” đã góp phần khắc họa sinh động chân dung người lính đảo.
Có thể nói, Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa không chỉ là một bài thơ hay về người lính mà còn là một bản ca ngợi sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt Nam. Dù ở nơi đầu sóng ngọn gió, thiếu thốn đủ bề, người lính vẫn biết làm đẹp cuộc sống bằng tiếng hát và tình yêu. Dư âm của điệu tình ca ấy vẫn ngân vang mãi, khơi dậy trong lòng người đọc niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc đối với những con người đang ngày đêm gìn giữ biển trời Tổ quốc.
Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca - mẫu 11
Trần Đăng Khoa vốn được mệnh danh là thần đồng thơ trẻ, nhưng khi bước vào tuổi trưởng thành với bộ quân phục màu xanh áo lính, ngòi bút của ông đã trở nên góc cạnh, trải đời và sâu sắc hơn bao giờ hết. Có lẽ chính những năm tháng trực tiếp cầm súng giữ đảo đã giúp ông bắt trọn những khoảnh khắc chân thực nhất của đời lính để kết tinh thành bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo. Khác với những vần thơ lãng mạn hóa, Trần Đăng Khoa đưa người đọc đến với một sân khấu của “đá san hô”, của những “chàng đầu trọc” và những giai điệu ngang tàng. Qua đó, tác giả khẳng định một chân lý giản đơn mà cao cả: ở nơi nào có tiếng hát và tình yêu, ở đó có sự sống và sự kiên trung của con người Việt Nam.
Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bởi cách nhìn hiện thực không chút né tránh. Không gian đảo hiện lên không phải với những hình ảnh lãng mạn hóa mà bằng những chi tiết thô sơ, thiếu thốn đến tận cùng. Sân khấu là đá san hô, cánh gà là vài tấm tôn chôn, phông màn thì chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa. Tất cả đều tạm bợ, đều chắp vá. Nhà thơ còn dùng những so sánh táo bạo: Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng; Đá củ đậu bay như lũ chim hoang. Cách ví von vừa thực vừa ảo này gợi lên sự dữ dội, biến ảo của thiên nhiên nơi đầu sóng, một thứ thiên nhiên luôn trong thế chống đối, sẵn sàng cuốn phăng đi tất cả. Thế nhưng, chính trong bối cảnh ấy, câu thơ Cứ mặc nó! vang lên thản nhiên, phớt tỉnh. Ba chữ ngắn gọn ấy là cả một tinh thần thép, là sự bất chấp gian nguy, là tư thế hiên ngang của người lính trước thử thách. Họ không chỉ sống, mà còn dám “hát”, dám “mở màn” giữa mây nước bốn bề.
Điểm nhấn đặc sắc nhất của bài thơ nằm ở cách xây dựng hình tượng “những chàng đầu trọc” là một chi tiết vừa thực, vừa hài hước, vừa xúc động. Cái đầu trọc không phải để làm đẹp hay theo mốt, mà sinh ra từ cái thiếu thốn nghiêm trọng: Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc. Câu thơ như một lời thanh minh hóm hỉnh, nhưng sau nụ cười là một nỗi niềm: để dành nước ngọt cho sinh hoạt thiết yếu, những người lính đã chấp nhận hy sinh cả vẻ bề ngoài. Họ trở thành lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau, thành “sư cụ”, thành “bà con xa với bụt ốc”. Những cách gọi đùa thân thương ấy đã xóa nhòa mọi ranh giới, tạo nên một cộng đồng keo sơn nơi đảo nhỏ. Sự đối lập giữa hình hài và tâm hồn càng làm nổi bật một chân lý: vẻ đẹp của con người không nằm ở bề ngoài, mà ở khả năng rung động, yêu thương và mơ ước giữa muôn trùng khó khăn.
Nếu hiện thực ở những khổ thơ đầu hiện lên với những đường nét gồ ghề, thô ráp, thì đến phần giữa của bài thơ, cánh cửa tâm hồn người lính bật mở, đưa ta vào một thế giới khác, thế giới của ký ức, tưởng tượng và khát vọng yêu thương. Đó là:
Cái giai điệu ngang tàng như gió biển
Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi.
Hai câu thơ như một định nghĩa về bản chất người lính: bề ngoài mạnh mẽ, phóng khoáng là thế, nhưng bên trong là một trái tim mềm yếu, đa cảm, luôn hướng về “các em” nơi đất liền. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng một khung cảnh lãng mạn đến nao lòng:
Rằng có đêm trăng dắt em đi dạo
Gương mặt em dịu dàng.
Hàng cây cũng tươi xinh.
Đó là một bức tranh bình yên, ấm áp, hoàn toàn đối lập với thực tại giông tố. Và rồi, câu thơ Mở mắt chung chiêng nghe lưng trời sóng vỗ / Và tay mình lại nắm lấy tay mình đã cắt ngang giấc mơ. Một sự thức tỉnh đầy xót xa: giữa đảo xa, người lính chỉ có thể nắm lấy bàn tay của chính mình. Hình ảnh đó gợi lên nỗi cô đơn tột cùng, nhưng cũng là biểu tượng của sự tự chủ, tự dựa vào chính mình để vượt qua. Những câu hỏi tu từ đầy băn khoăn:
Người yêu chúng anh ơi, các em ở phương nào?
Các em cao hay lùn? Có trời mà biết được
Bóng dáng nào sẽ đến với chúng anh? đã diễn tả chân thực một nỗi khao khát mơ hồ, một thứ tình yêu chưa có địa chỉ cụ thể. Đó là tình yêu với một lý tưởng, với một tương lai tươi sáng hơn. Điều đó vừa bi tráng, vừa lãng mạn.
Không chỉ dừng lại ở tình yêu đôi lứa, bài thơ còn vươn lên một tầm cao mới: tình yêu Tổ quốc. Lời hát của người lính không chỉ là để gửi tới “các em” mà còn là một lời tuyên bố đanh thép:
Nào hát lên cho mấy nước biết
Rằng chúng ta là những con người
Yêu em thủy chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai....
So sánh “thủy chung hơn muối mặn” vừa mộc mạc, vừa thiêng liêng, gợi nhắc về những lời thề trong ca dao, dân ca. Và đỉnh cao của sự khẳng định là câu thơ vang lên như một định mệnh:
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.
Câu thơ này không chỉ có giá trị về mặt chính trị, tư tưởng mà còn mang một vẻ đẹp thi ca kỳ diệu. Nó đặt một dấu mốc thiêng liêng giữa mênh mông trời nước, khẳng định rằng mỗi tấc đá, mỗi ngọn sóng nơi đây đều là máu thịt của Tổ quốc. Tình yêu đôi lứa hòa vào tình yêu non sông, nâng đỡ cho nhau, làm cho sự hy sinh của người lính trở nên cao cả và có ý nghĩa.
Cái kết của bài thơ là một sự bất ngờ đầy ám ảnh:
Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau
Ngoài mép biển, người đâu lên đông thế
Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu....
Không có khán giả nào khác ngoài những người lính. Họ hát cho nhau nghe, hát cho đảo đá nghe, hát cho chính mình nghe. Hình ảnh "đá trọc đầu" vừa hài hước, vừa gợi sự kiên cường, bền bỉ. Đá vô tri nhưng dường như cũng biết lắng nghe, biết chứng kiến. Cảnh tượng ấy tôn vinh vẻ đẹp của sự cô đơn thầm lặng, của lòng dũng cảm không cần khán giả.
Bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo là một thành công trong việc sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, lúc dồn dập, khi trải dài như sóng biển. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu tính khẩu ngữ, pha chút hài hước, ngang tàng nhưng không kém phần sâu sắc. Nhà thơ đặc biệt thành công với bút pháp tương phản: giữa cái tạm bợ của vật chất và cái vĩnh hằng của tinh thần, giữa hình hài đầu trọc thiếu thốn và sự giàu có trong tâm hồn hát tình ca, giữa nỗi cô đơn của cá nhân và sự vững chãi của tập thể, giữa khát vọng yêu thương và trách nhiệm với Tổ quốc. Những lớp tương phản ấy tạo nên chiều sâu cho bài thơ, khiến người đọc phải suy ngẫm.
Lính đảo hát tình ca trên đảo của Trần Đăng Khoa không chỉ là một bài thơ hay về người lính biển đảo, mà còn là một bản anh hùng ca bằng chất liệu đời thường. Qua hình ảnh những chàng lính đầu trọc hát tình ca giữa mưa bom bão đạn (của thiên nhiên), nhà thơ đã khẳng định một chân lý giản dị mà lớn lao: vẻ đẹp chân chính của con người không nằm ở vật chất hay ngoại hình, mà ở khả năng yêu thương, mơ ước và hy sinh. Họ đứng vững trên đảo xa không chỉ bằng súng đạn mà còn bằng trái tim rực cháy tình yêu: tình yêu đôi lứa, tình yêu đồng đội, và trên hết là tình yêu Tổ quốc. Bài thơ xứng đáng là một tiếng thơ vọng mãi từ Trường Sa, gợi nhắc cho đất liền về những người con đang ngày đêm giữ biển.
Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 10 hay khác:
- Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ quan niệm có tiền là có tất cả.
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung).
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm Người ở bến sông Châu (Sương Nguyệt Minh).
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn trích Kiêu binh nổi loạn (Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái).
- Hãy viết bài văn phân tích, đánh giá bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi).
Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 10 hay khác:
- Soạn văn 10 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 10 Cánh diều (ngắn nhất)
- Soạn văn 10 Cánh diều (siêu ngắn)
- Giải Chuyên đề học tập Văn 10 Cánh diều
- Giải lớp 10 Cánh diều (các môn học)
- Giải lớp 10 Kết nối tri thức (các môn học)
- Giải lớp 10 Chân trời sáng tạo (các môn học)
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Soạn văn 10 (hay nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - Cánh diều
- Giải sgk Toán 10 - Cánh diều
- Giải Tiếng Anh 10 Global Success
- Giải Tiếng Anh 10 Friends Global
- Giải sgk Tiếng Anh 10 iLearn Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 10 Explore New Worlds
- Giải sgk Vật lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Địa lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử 10 - Cánh diều
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

