(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Sân khấu dân gian và kịch

Chuyên đề Sân khấu dân gian và kịch trong tài liệu ôn thi Đánh giá năng lực, Đánh giá tư duy theo cấu trúc mới nhất đầy đủ lý thuyết trọng tâm, các dạng bài & bài tập đa dạng từ cơ bản đến nâng cao giúp Giáo viên & học sinh có thêm tài liệu ôn thi ĐGNL HSA, VACT và ĐGTD TSA đạt kết quả cao.

(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Sân khấu dân gian và kịch

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Chỉ từ 200k mua trọn bộ Đề thi & Tài liệu ôn thi ĐGNL - ĐGTD năm 2026 của các trường theo cấu trúc mới bản word có lời giải chi tiết:

Quảng cáo

A. LÍ THUYẾT

I. ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

1. ĐẶC TRƯNG CHUNG

1.1. Sân khấu dân gian

    Sân khấu dân gian là một loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, phản ánh văn hoá và đời sống của cộng đồng qua các hình thức trình diễn phong phú. Dưới đây là một số đặc điểm chính của sân khấu dân gian:

    – Tỉnh cộng đồng và dân tộc: Sân khấu dân gian thường gắn liền với đời sống sinh hoạt của cộng đồng, phản ánh những phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng và sinh hoạt hằng ngày của người dân. Tính cộng đồng còn được thể hiện ở sự tham gia của công chúng. Khán giả không chỉ là người xem mà còn có thể tham gia vào các phần biểu diễn, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa nghệ sĩ và người xem.

    – Tính nghi lễ và tâm linh: Nhiều hình thức sân khấu dân gian có nguồn gốc từ các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống. Ví dụ, các lễ hội chèo, tuồng, múa rối nước thường được tổ chức vào các dịp lễ hội, cúng tế thần linh.

    – Tính ứng tác và linh hoạt: Nghệ sĩ dân gian thường sử dụng khả năng ứng tác linh hoạt trong các màn biểu diễn. Kịch bản có thể không được chuẩn bị trước một cách chi tiết mà phụ thuộc vào tình huống thực tế, sự tương tác với khán giả.

Quảng cáo

    – Tính tổng hợp nghệ thuật: Sân khấu dân gian kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như múa, hát, nhạc, diễn xuất, và sử dụng nhiều loại hình nghệ thuật phụ trợ như trang phục, mặt nạ, đạo cụ.

    – Ngôn ngữ và biểu diễn: Ngôn ngữ trong sân khấu dân gian thường gần gũi, dễ hiểu, mang đậm tính chất địa phương, sử dụng nhiều câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Biểu diễn thường mang tính hài hước, trào phúng, dễ gây cười và thu hút người xem.

    – Không gian và thời gian biểu diễn: Sân khấu dân gian thường không bị giới hạn bởi không gian biểu diễn. Các buổi biểu diễn có thể diễn ra ở đình làng, sân nhà, bãi cỏ, hoặc bất kì không gian công cộng nào phù hợp với tình hình thực tế.

    – Tính giáo dục và truyền đạt kinh nghiệm sống: Nội dung các vở diễn sân khấu dân gian thường chứa đựng những bài học về đạo lí, kinh nghiệm sống, lời khuyên về cách ứng xử trong cộng đồng, góp phần giáo dục thế hệ trẻ.

Những đặc điểm này làm cho sân khấu dân gian không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một phần quan trọng trong đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng.

1.2. Kịch

Quảng cáo

    – Nói đến kịch là nói đến một loại hình của nghệ thuật sân khấu mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn, hoá trang, ánh sáng, âm thanh... Kịch bản văn học chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch.

    – Là một trong ba loại chính của văn học, kịch bản trước hết tự nó phải là một tác phẩm hoàn chỉnh và độc lập, thể hiện đầy đủ những đặc điểm của một tác phẩm văn học. Tuy nhiên, kịch bản văn học được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu trước một tập thể khán giả trong một thời gian nhất định nên nghệ thuật sân khấu quy định hết sức chặt chẽ quá trình sáng tác kịch bản văn học của nhà văn. Sự quy định đó có thể được thể hiện ở nhiều mặt. Trước hết là về dung lượng phản ánh của kịch bản văn học. Nhà văn không thể xây dựng kịch bản với một thời gian quá dài với nhiều nhân vật qua những không gian rộng lớn như trong tiểu thuyết. Ngoài ra, nhân vật còn phải “sân khấu hoá” tất cả những gì được miêu tả. Những sự kiện, diễn biến của cốt truyện phải được xây dựng thế nào cho phù hợp với việc thể hiện một cách trực tiếp trên sân khấu thông qua hành động, ngôn ngữ của diễn viên. Như vậy, có thể nói, kịch bản là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh nhưng đồng thời gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật sân khấu.

Quảng cáo

    – Đặc trưng thể loại của văn học kịch được thể hiện chủ yếu qua các phương diện: xung đột kịch, nhân vật kịch, ngôn ngữ kịch, hành động kịch.

    * Xung đột kịch: Xung đột trong tác phẩm kịch là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch. Có thể có rất nhiều loại xung đột khác nhau. Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ để thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng... Do tính chất sân khấu quy định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác. Vì vậy, có thể nói, xung đột là đặc điểm cơ bản của kịch.

    * Hành động kịch: Xung đột kịch được triển khai thông qua các hành động. Hành động là cơ sở của tác phẩm kịch. Hành động là những hoạt động bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, quan hệ... của con người trong cuộc sống xung quanh. Trong kịch, hành động được thể hiện qua suy nghĩ của nhân vật, qua hành vi, động tác, ngôn ngữ của họ. Hành động là đặc trưng của kịch và là thứ ngôn ngữ nghệ thuật duy nhất tạo nên sức sống cho tác phẩm kịch. Hình thức biểu hiện của hành động kịch được thông qua các hoạt động ngôn ngữ (đối thoại, độc thoại) và các hoạt động sân khấu (hình thể, điệu bộ, cử chỉ). Hành động kịch được tổ chức theo một quy luật thống nhất, phù hợp với lôgic phát triển của cốt truyện, của tính cách nhân vật. Trong đó, mọi hành động lớn nhỏ đều dẫn tới xung đột và giải quyết xung đột. Qua đó, chủ đề tư tưởng sẽ được gợi mở, giá trị nghệ thuật sẽ được khẳng định.

    * Nhân vật kịch: Một vở kịch được diễn trên sân khấu, chỉ có nhân vật đi lại, nói năng, hoạt động. Trong kịch bản văn học, ngoài nhân vật, còn có những lời chỉ dẫn về cảnh vật, con người thường được in nghiêng được tác giả viết nhằm gợi ý cho sự dàn dựng của đạo diễn chứ không phải cho người xem. Vì vậy, có thể nói trên sân khấu chi có nhân vật hành động. Tất cả mọi sự việc đều được bộc lộ thông qua nhân vật. Điểm khác nhau cơ bản giữa tác phẩm kịch với tác phẩm tự sự và kí là kịch không có nhân vật người kể chuyện.

    – Tác phẩm kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm tự sự và cũng không được khắc hoạ tỉ mỉ, nhiều mặt. Do đó, tính cách nhân vật trong kịch tập trung, nổi bật và xác định nhằm gây ấn tượng mãnh liệt và sâu sắc cho khán giả. Hiển nhiên sự nổi bật, tập trung đó không có nghĩa là đơn giản, một chiều.

    – Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắt buộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt... Dĩ nhiên đặc trưng này cũng được thể hiện trong các loại văn học khác nhưng rõ ràng được thể hiện tập trung và phổ biến nhất trong kịch. Chính từ đặc điểm này, nhiều tác giả kịch đã dùng biện pháp lưỡng hoá nhân vật nhằm biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm của chính nhân vật đó.

    * Ngôn ngữ kịch: Một phương tiện rất quan trọng để bộc lộ hành động kịch là ngôn ngữ. Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện nên không có ngôn ngữ người kể chuyện. Vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có ngôn ngữ nhân vật. Có thể nói đến ba dạng ngôn ngữ nhân vật trong kịch: đối thoại, độc thoại và bàng thoại.

    – Đối thoại là lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật. Đây là dạng ngôn ngữ chủ yếu trong kịch. Các lời đối thoại trong kịch phải sắc sảo, sinh động và có tác dụng hỗ tương với nhau nhằm thể hiện kịch tính.

    – Độc thoại là lời nhân vật tự nói với mình, qua đó bộc lộ những dằn vặt nội tâm và những ý nghĩa thầm kín. Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm biểu hiện nội tâm nhân vật nhưng không phải là biện pháp duy nhất. Để biểu hiện nội tâm, bên cạnh độc thoại, người ta có thể thay thế bằng những phút yên lặng, những tiếng vọng, tiếng đế...

    – Bàng thoại là nói với khán giả. Có khi đang đối đáp với một nhân vật khác, bỗng dưng nhân vật tiến gần đến và hướng về khán giả nói vài câu để phân trần, giải thích một cảnh ngộ, một tâm trạng cần được chia sẻ, một điều bí mật: loại này chiếm tỉ lệ thấp trong ngôn ngữ kịch.

    Các dạng ngôn ngữ của kịch đòi hỏi phải mang tính khẩu ngữ, động tác hoá và tính cách hoá. Trước hết, đó là những lời đối thoại thông thường trong cuộc sống, phải có tác dụng khắc hoạ tính cách, nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ văn hoá... của nhân vật.

2. ĐẶC TRƯNG MỘT SỐ LOẠI HÌNH SÂN KHẤU, KỊCH

2.1. Sân khấu dân gian

    * Chèo

    – Chèo cổ (còn gọi là chèo sân đình, chèo truyền thống) thuộc thể loại sân khấu dân gian, ra đời từ xa xưa, phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Chèo cổ phản ánh đời sống vật chất, tâm hồn, tình cảm của con người trong xã hội phong kiến, ca ngợi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người, phê phán các thói hư tật xấu, thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn. Những vở chèo cổ đặc sắc gồm: Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình – Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên, Từ Thức ....

    – Chèo cổ là bộ môn nghệ thuật tổng hợp của ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, tạo hình,.. Kịch bản chèo (tích chèo) là phản nội dung chính của vở diễn, thường lấy từ các truyện cổ tích, truyện Nôm, truyện cười, được các nghệ nhân hoặc nhà sưu tầm, nghiên cứu.... ghi chép lại thành văn bản, trong đó có cốt truyện, nhân vật kèm lời thoại và các chỉ dẫn về bối cảnh, trang phục, hoạt động trên sân khấu....

    – Cần phân biệt giữa kịch bản chèo và sân khấu chèo: Kịch bản chèo là văn bản văn học, được tiếp nhận thông qua hình thức đọc, bạo gồm lời thoại của nhân vật và một số chỉ dẫn sân khấu căn bản (ví dụ: “hát sắp ", "nói lệch",.). Sân khấu chèo là sự hiện thực hoá kịch bản chèo thông qua hoạt động trình diễn, được tiếp nhận bằng hình thức xem và nghe.

    Đặc điểm của chèo cổ thể hiện qua nhiều yếu tố: đề tài, tích truyện, nhân vật, cấu trúc, lời thoại...

    Đề tài: Chèo cổ thường xoay quanh vấn đề giáo dục cách sống, cách ứng xử giữa người với người theo quan điểm đạo lí dân gian hoặc theo tư tưởng Nho giáo.

Tích truyện là chất liệu xây dựng nên cốt truyện của chèo. Thường là các nhân vật, hành động, sự việc có sẵn trong kho tàng truyện cổ dân gian hoặc trong dã sử được khai thác và tổ chức lại theo nguyên tác kịch hay xung đột. Từ các tích truyện này, các tác giả kịch bản – thường là giới nho sĩ – viết thành kịch bản chèo để truyền bá những tin điều của tư tưởng Nho giáo. Tuy nhiên, qua quá trình ứng tác, biểu diễn, nhiều chủ đề truyền thống bị làm mờ đi, nhường chỗ cho những khát vọng nhân bản hơn, vượt ra ngoài giáo lí Nho học.

    Nhân vật: Các loại hình nhân vật phổ biến trong chèo bao gồm kép, đào, hề, mụ, lo. Kép (nam chính) thường là các sĩ tử chân chính, hiếu học; đào (nữ chính) bao gồm đào thương (những phụ nữ trung trinh tiết liệt), đào lệch hay còn gọi là đào lẳng (những phụ nữ nổi loạn, đi ngược lại quan điểm đạo đức phong kiến), đào pha (trung gian giữa hai loại vai đào thương và đào lệch), hề (nhân vật hài hước, gây cười) mụ (nhân vật nữ lớn tuổi); lão (nhân vật nam lớn tuổi). Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ với tính cách không thay đổi.

    * Tuồng

    – Tuồng là loại hình sân khấu truyền thống của dân tộc. Tuồng được chia làm hai loại: tuồng cung đình (còn gọi là tuồng thầy, tuồng pho) và tuồng hài (còn gọi là tuồng đồ).

    – Tuồng cung đình viết về đề tài trung với vua, đánh giặc bảo vệ đất nước, bảo vệ triều đình, có âm hưởng bi tráng, giàu kịch tính, mâu thuẫn căng thẳng, quyết liệt giữa hai phe trung – nịnh, tốt – xấu,... Có thể kể đến các vở tuồng cung đình tiêu biểu như: Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Tam Xuân,...

    – Tuồng hài viết về các đề tài sinh hoạt, lấy tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, có cốt truyện phong phú, gần gũi với cuộc sống của người bình dân xưa. Các vở tuồng hài tiêu biểu là: Nghêu, Sò, Ốc, Hến; Trương Ngáo; Trương Đồ Nhục; Trần Bổi,...

    – Nghệ thuật tuồng là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, hội hoạ và các trò diễn dân gian. Cũng như chèo, kịch bản tuồng là một văn bản có cốt truyện, nhân vật kèm lời thoại và chỉ dẫn về bối cảnh, trang phục, hoạt động trên sân khấu,...

    – Đặc điểm của tuồng đồ thể hiện qua nhiều yếu tố: đề tài, tích truyện, nhân vật, cấu trúc, lời thoại, phương thức lưu truyền,....

    Đề tài lấy từ đời sống thôn dã, hoặc tích truyện có sẵn, dựng thành những câu chuyện, tình huống hài hước, những nhân vật phản diện hiện thân cho những thói hư tật xấu của một số hạng người trong xã hội phong kiến tiểu nông. Tuồng đồ, do vậy, thiên về trào lộng, phê phán xã hội trên lập trường đạo đức của người bình dân, khác với tuồng pho thưởng lấy đề tài từ sách, truyện Trung Quốc với cảm hứng anh hùng, đề cao lí tưởng trung quân theo lập trường Nho giáo.

................................

................................

................................

B. BÀI TẬP VẬN DỤNG

I. CÂU HỎI

Câu 1: Xung đột trong tác phẩm kịch thể hiện điều gì?

A. Sự hài hoà và thống nhất giữa các nhân vật.

B. Sự phát triển cao nhất của mâu thuẫn giữa các lực lượng đối lập.

C. Sự miêu tả chi tiết về cuộc sống hằng ngày.

D. Sự mô tả đẹp đẽ và lãng mạn về tình yêu.

Câu 2: Nhân vật trong kịch phải được xây dựng như thế nào để phù hợp với việc biểu diễn trên sân khấu?

A. Có tính cách đa chiều và phức tạp.

B. Có số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau.

C. Phải “sân khấu hoá” mọi hành động, ngôn ngữ và cử chỉ.

D. Được miêu tả chi tiết và ti mi như trong tiểu thuyết.

Câu 3: Trong văn bản kịch không có ngôn ngữ người kể chuyện mà chỉ có ngôn ngữ của ai?

A. Tác giả.

B. Nhân vật.

C. Đạo diễn.

D. Khán giả.

Câu 4: Hành động kịch được thể hiện qua những yếu tố nào?

A. Động tác của các nhân vật.

B. Suy nghĩ, động tác của nhân vật.

C. Suy nghĩ, hành vi, động tác và ngôn ngữ của nhân vật.

D. Lời nói, cử chỉ, thái độ của nhân vật.

Câu 5: Nội dung nào KHÔNG thuộc phạm vi phản ánh của chèo cổ?

A. Cuộc sống hằng ngày của tầng lớp quý tộc.

B. Đời sống vật chất, tinh thần của người bình dân.

C. Ca ngợi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người

D. Phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội

................................

................................

................................

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Xem thêm tài liệu ôn thi đánh giá năng lực HSA, VACT, đánh giá tư duy TSA hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học