(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Tác gia văn học

Chuyên đề Tác gia văn học trong tài liệu ôn thi Đánh giá năng lực, Đánh giá tư duy theo cấu trúc mới nhất đầy đủ lý thuyết trọng tâm, các dạng bài & bài tập đa dạng từ cơ bản đến nâng cao giúp Giáo viên & học sinh có thêm tài liệu ôn thi ĐGNL HSA, VACT và ĐGTD TSA đạt kết quả cao.

(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Tác gia văn học

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Chỉ từ 200k mua trọn bộ Đề thi & Tài liệu ôn thi ĐGNL - ĐGTD năm 2026 của các trường theo cấu trúc mới bản word có lời giải chi tiết:

Quảng cáo

A. TÁC GIA NGUYỄN TRÃI

I. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

1. CUỘC ĐỜI

    – Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Ngọc Ôi, trấn Sơn Nam Thượng, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội). Thân phụ là Nguyễn Ứng Long (sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh) vốn là học trò nghèo, thi đỗ Thái học sinh. Thân mẫu là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc.

    – Nguyễn Trãi sống trong thời đại đầy biến động dữ dội. Nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên thay, lập ra nhà Hồ. Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh. Cả Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi đều làm quan cho nhà Hồ. Nhưng chẳng bao lâu quân Minh sang cướp nước ta, chúng bắt cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần đem về Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai sang Trung Quốc. Nhưng đến ải Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị giặc bắt giữ ở Đông Quan. Nguyễn Trãi bỏ trốn, tìm theo Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách (Kế sách đánh đuổi quân Minh) và được Lê Lợi tin dùng. Ông trở thành quân sư số một của Lê Lợi. Từ đó bắt đầu một đoạn đời đắc chí, hào hùng. Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, giúp Lê Lợi soạn các loại văn thư, chiếu lệnh, góp công lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước. Sau khi đuổi xong giặc nước, Nguyễn Trãi chưa kịp thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình thịnh trị, vua dân hoà mục như ông hằng mong ước, thì cuộc đời chuyển sang giai đoạn khó khăn và bi thảm. Sau thắng lợi một năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn mưu phản, sai quân bắt tội, khiến vị danh tướng này phải nhảy xuống sông tự vẫn. Trần Nguyên Hãn là cháu nội quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, cho nên Nguyễn Trãi cũng bị bắt. Sau khi được tha, ông không được tin dùng nữa. Suốt mười năm (1429 – 1439), Nguyễn Trãi chỉ được giao những chức “nhàn quan”, không có thực quyền. Năm 1439, Nguyễn Trãi xin cáo quan về ở Côn Sơn, nhưng chỉ mấy tháng sau, vua Lê Thái Tông lại với ông ra làm việc nước. Nguyễn Trãi đang hi vọng một thời cơ mới thì thật không may, chỉ ba năm sau, một thảm hoạ đã giáng xuống. Vụ án Lệ Chi Viên, vụ án oan lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đã cướp đi sinh mệnh, khiến ông mãi mãi không còn cơ hội thực hiện hoài bão của mình.

Quảng cáo

2. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

2.1. Tác phẩm của Nguyễn Trãi

    – Nguyễn Trãi là một tài năng lỗi lạc hiếm có. Ông đã để lại cho nước nhà một di sản to lớn về các mặt quân sự, văn hoá, văn học.

    – Tác phẩm của Nguyễn Trãi cũng phải chịu một số phận long đong. Sau khi ông mất, nhiều tác phẩm từng bị ra lệnh tiêu huỷ. Hai mươi lăm năm sau, Lê Thánh Tông truyền lệnh sưu tầm tác phẩm của Nguyễn Trãi, nhưng rồi lại bị thất tán. Mãi đến đầu thế kỉ XIX, tác phẩm của ông mới được tìm lại và nửa cuối thế kỉ XIX mới được khắc in. Chỉ nhờ vào tình yêu thơ văn Nguyễn Trãi của biết bao thế hệ, các tác phẩm ấy mới được bảo tồn.

    – Về quân sự và chính trị, Nguyễn Trãi có Quân trung từ mệnh tập, gồm một số thư từ, biểu, quân lệnh gửi cho các tướng của ta và những bức thư ông nhân danh Lê Lợi viết để giao thiệp với các tướng nhà Minh, thực hiện kế hoạch “đánh vào lòng người”. Đại cáo bình Ngô là áng “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử, một văn kiện tổng kết đầy đủ và xúc động về cuộc kháng chiến anh dũng chống quân Minh và cũng là một bản tuyên ngôn về lòng yêu hoà bình của nhân dân ta. Ngoài bài Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi còn soạn 28 bài gồm phú, chiếu, biểu, tấu, bi kí, lục,... Trong đó đáng chú ý là bài Phủ núi Chí Linh, Chuyện cũ về cụ Băng Hồ

Quảng cáo

    – Về lịch sử, các tác phẩm Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng của Nguyễn Trãi đã ghi lại quá trình khởi nghĩa Lam Sơn, khẳng định tư tưởng gắn bó với nhân dân là điều kiện tiên quyết của mọi thắng lợi. 

    – Dư địa chí là tác phẩm địa lí xưa nhất còn lại của nước ta, ngoài giá trị địa lí còn có giá trị lịch sử và dân tộc học.

    – Về văn học, Nguyễn Trãi có Ức Trai thi tập, tập thơ chữ Hán và Quốc âm thi tập, tập thơ chữ Nôm. Quốc âm thi tập đánh dấu sự hình thành của nền thơ ca tiếng Việt.

2.2. Thơ văn Nguyễn Trãi thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa, triết lí thế sự và tình yêu thiên nhiên

    – Nổi bật trong thơ văn Nguyễn Trãi là tư tưởng nhân nghĩa mang nội dung yêu nước, thương dân. Trước cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Trãi đã thoát khỏi tư tưởng trung hiếu nhỏ hẹp, đặt lòng yêu nước, thương dân lên trên hết:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

                          (Đại cáo bình Ngô)

Quảng cáo

    – Yêu nước gắn với thương dân, việc nhân nghĩa nhằm làm cho nhân dân được sống yên ổn – đó là tư tưởng chủ đạo suốt đời của Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập với chiến lược “công tâm” toát lên tư tưởng hoà bình “để nhân dân nghỉ sức”. Sau khi đất nước thanh bình, ông ước mong có một chế độ sáng suốt để muôn dân được sống hạnh phúc:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

                          (Cảnh ngày hè)

    Ông nhìn ra sức mạnh vô địch của dân:

Lật thuyền mới biết dân như nước,

Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.

                          (Đóng cửa biển)

    Trong bài biểu về khánh đá (1437), Nguyễn Trãi ước ao “trong thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu”. Ông chủ trương phép nước “không lấy điều muốn của một người mà cưỡng ép muôn người không muốn phải theo” (Chiếu bàn về phép tiền tệ).

    – Thơ Nguyễn Trãi thể hiện những tư tưởng triết lí thế sự sâu sắc mà giản dị, những trải nghiệm đau đớn về cuộc đời. Ví dụ:

– Dưới công danh đeo khổ nhục,

Trong dại dột có phong lưu.

                          (Ngôn chí, bài 2)

– Phượng những tiếc cao điều hãy liệng

Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi.

                          (Tự thuật, bài 9)

– Người tri âm ít, cầm nên lặng,

Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu.

                          (Tức sự, bài 10)

– Nên thợ nên thầy vì có học,

No ăn no mặc bởi hay làm.

                          (Bảo kính cảnh giới, bài 46)

– Áo mặc miễn là cho cật ấm,

Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon.

                          (Dạy con trai)

    – Thơ Nguyễn Trãi tràn đầy tình yêu thiên nhiên. Hiếm có nhà thơ nào yêu quý, nâng niu cảnh vật thiên nhiên như ông:

Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá,

Rừng tiếc chim về ngại phát cây.

                          (Mạn thuật, bài 6)

    Đối với ông, thiên nhiên là bầu bạn, là gia đình ruột thịt:

Cây rợp tán che am mát,

Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.

Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn,

U ấp cùng ta làm cái con.

                           (Ngôn chí, bài 20)

    Trong bài Cảnh ngày hè, nhà thơ say đắm với sức sống bừng bừng của cảnh vật. Một loạt từ láy, hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi tả (đùn đùn, giương, phun, tiễn, lao xao, đẳng dỏi) đã thể hiện được những quan sát, cảm nhận hết sức tinh tế của tác giả. Bài thơ là cả một thế giới màu sắc và âm thanh sống động.

    – Thơ Nguyễn Trãi rất giàu tình cảm. Khi xuân qua hè đến, ông bâng khuâng nghĩ đến bàn tay người đẹp với một tấm lòng đồng cảm sâu xa:

Vì ai cho cái đỗ quyên kêu,

Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu.

Lại có hoè hoa chen bóng lục,

Thức xuân một điểm não lòng nhau.

                          (Cảnh hè)

    – Thơ văn Nguyễn Trãi chẳng những thấm nhuần tinh thần nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, thể hiện triết lí thế sự sâu sắc, mà còn chan chứa tình yêu thiên nhiên và con người.

2.3. Thơ văn Nguyễn Trãi là đỉnh cao chói lọi trong nền văn học dân tộc

    – Đúng như vua Lê Thánh Tông nói: “Lòng Ức Trai toả rạng văn chương” (Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo). Nguyễn Trãi là nhà văn có nhiều cống hiến to lớn cho văn học dân tộc. Trước hết ông là nhà văn chính luận kiệt xuất. Nước ta đã có những áng văn chính luận nổi tiếng như Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn nhưng Nguyễn Trãi xuất hiện như một nhà văn chính luận sắc bén, giàu nhân nghĩa và đầy tính chiến đấu. Quân trung từ mệnh tập là tập văn chính luận phản ánh đầy đủ chiến lược “công tâm” của quân Lam Sơn. Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng, đanh thép. Cùng với các bài chiếu, biểu, lục khác ông đã xây đắp nền móng văn hoá tư tưởng cho dân tộc.

    – Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mĩ phong phú, vừa trữ tình, trí tuệ, vừa hào hùng, lãng mạn. Bài Cửa biển Bạch Đằng là thơ trữ tình về chiến công lịch sử – một nỗi niềm thương cảm đối với các anh hùng xưa. Đóng cửa biển là bài thơ triết lí khẳng định bài học về sức mạnh của nhân dân. Bài Mộng trong núi là một giấc mơ lãng mạn, siêu thoát:

Trong Thanh Hư động trúc nghìn cây,

Phơi phới thác bay, kính lạnh bày.

Trăng sáng đêm qua trời tựa nước,

Mộng lên tiên cưỡi hạc vàng bay.

                          (Đào Duy Anh dịch từ bản chữ Hán)

    – Về thơ Nôm, Nguyễn Trãi là người sáng tạo tiên phong, để lại tập thơ xưa nhất và nhiều bài nhất. Đó là những bài thơ giàu trí tuệ, sâu sắc, thấm đẫm trải nghiệm về cuộc đời, được viết bằng một ngôn ngữ tinh luyện, trong sáng, đăng đối một cách cổ điển. Ví dụ:

– Nước biếc non xanh thuyền gối bãi,

Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu.

                          (Bảo kính cảnh giới, bài 26)

– Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc,

Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh.

                          (Tự thân, bài 29)

    – Nguyễn Trãi là nhà thơ sớm đưa tục ngữ vào tác phẩm. Bên cạnh những mai, lan, cúc, tùng trang nhã, ông cũng là người đầu tiên đưa các hình ảnh thân thuộc như “lảnh mồng tơi”, “bè rau muống”, “vị núc nác”,...vào thơ. Nguyễn Trãi đã sáng tạo hình thức thơ thất ngôn xen lục ngôn, một hình thức khác với thơ Đường luật. Trong Quốc âm thi tập gồm 254 bài có tới 186 bài viết theo lối đó. Thể thơ này từ thế kỉ XVII trở đi ít được dùng nhưng nó đã thể hiện tinh thần phá cách sáng tạo mạnh mẽ của nhà thơ.

................................

................................

................................

II. BÀI TẬP VẬN DỤNG

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:

Nguyễn Trãi (1380 – 19/9/1442), hiệu Ức Trai, quê xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương); sau dời đến làng Ngọc Ôi, xứ Sơn Nam Thượng, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).

Xuất thân trong một gia đình Nho học: cha là Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh (1856 – 1429); ông ngoại là Trần Nguyên Đán (1325 – 1390) – tiến sĩ, nhà thơ và tể tướng cuối triều Trần; hơn nữa, vốn là người tài trí, thi đậu thái học sinh (tiến sĩ) vào năm Canh Thìn (1400) và được triều Hồ trao giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng khi mới tròn 20 tuổi.., Nguyễn Trãi hội đủ điều kiện để có thể dẫn thân gánh vác những trọng trách lớn lao và góp phần giải quyết những thách thức đang đặt ra trước toàn dân tộc. Trải qua nhiều năm tháng tìm đường cứu nước, bước chân trải khắp dặm dài xứ sở, đặc biệt là quãng đời mười năm gian khổ "nếm mật nằm gai” gắn bó với — cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cho đến ngày toàn thắng, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ bản lĩnh, khí phách và tinh thần Đại Việt, trở thành nguồn sáng phẩm chất và tinh hoa dân tộc.

Nguyễn Trãi là nhà văn hoá xuất sắc của Việt Nam trên các tư cách anh hùng dân tộc, nhà văn, nhà tư tưởng, nhà chính trị quan chức, nhà ngoại giao, nhà sử học và địa lí học. Về hoạt động xã hội, ông là bậc khai quốc công thần một lòng đắp xây vương triều Lê trong buổi ban đầu. Gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, trên cương vị Tuyên phụng đại phu; Hàn lâm thừa chi, Nguyễn Trãi đã có tập thư binh vận - luận chiến Quân trung từ mệnh tập nổi tiếng, sử dụng “đao bút" như một thứ vũ khí lợi hại, góp phần làm suy yếu tinh thần quân địch. Sau đại thắng Mậu Thân (1428), Nguyễn Trãi đã viết một số tác phẩm trong đó có Bình Ngô đại cáo (được coi là áng “thiên cổ hùng văn”), Phú núi Chí Linh và Lam Sơn Vĩnh Lăng Thần đạo bị (nêu bật công tích của Lê Lợi trong sự nghiệp cứu nước), Băng Hồ di sự lục (bản tóm tắt tiểu sử và sự nghiệp Trần Nguyên Đán). Thơ ca của ông có lẽ được sáng tác chủ yếu vào thời gian sau chiến tranh. Tập thơ chữ Hán Ức Trai thi tập gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đường truyền thống và trong hệ quy chiếu chung của mĩ học thời đại phong kiến. Riêng với Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài, có thể coi Nguyễn Trãi là người chính thức khởi đầu tập đại thành thơ quốc âm, mở ra một dòng chảy mới trong nền thơ ca dân tộc. Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách, cách tân, khắc phục khuynh hướng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tạo thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả thế giới thiên nhiên và nội tâm con người bằng ngôn ngữ và điệu tâm hồn dân tộc.

(Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Trãi anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới

in trong Nguyễn Trãi về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2003, tr. 6–7)

Câu 1. Đáp án nào sau đây nêu ĐÚNG hiệu của Nguyễn Trãi?

A. Thanh Hiện

B. Ức Trai

C. Quế Sơn

D. Hy Văn

Câu 2. Ý nào sau đây KHÔNG ĐÚNG khi nói về tiểu sử của Nguyễn Trãi?

A. Nguyễn Trãi quê gốc ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội nhưng lớn lên ở làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, Hải Dương

B. Thân phụ Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, đỗ thái học sinh dưới triều Trần

C. Thân mẫu là Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán

D. Ông sinh năm 1380, mất năm 1442

Câu 3. Ý nào dưới đây KHÔNG ĐÚNG khi nói về cuộc đời của Nguyễn Trãi?

A. Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh và làm quan cùng cha dưới triều Hồ

B. Khoảng năm 1432, Nguyễn Trãi tìm vào Lam Sơn theo giúp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách

C. Năm 1437, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn (Hải Dương).

D. Năm 1443, Nguyễn Trãi bị bọn gian thần vu cho tội giết vua và phải chịu án “tru di tam tộc”.

Câu 4. Những sáng tác của Nguyễn Trãi thuộc những lĩnh vực nào?

A. Chính trị, lịch sử, địa lí, văn học

B. Quân sự, chính trị, lịch sử, địa lí, thiên văn học

C. Quân sự, chính trị, lịch sử, địa lí, văn học

D. Quân sự, chính trị, lịch sử, văn học

Câu 5. Tác phẩm nào dưới đây KHÔNG PHẢI là tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Trãi?

A. Ức Trai thi tập

B. Quốc âm thi tập

C. Quân trung từ mệnh tập

D. Lam Sơn thực lục

................................

................................

................................

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Xem thêm tài liệu ôn thi đánh giá năng lực HSA, VACT, đánh giá tư duy TSA hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học