(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Kiến thức về văn bản

Chuyên đề Kiến thức về văn bản trong tài liệu ôn thi Đánh giá năng lực, Đánh giá tư duy theo cấu trúc mới nhất đầy đủ lý thuyết trọng tâm, các dạng bài & bài tập đa dạng từ cơ bản đến nâng cao giúp Giáo viên & học sinh có thêm tài liệu ôn thi ĐGNL HSA, VACT và ĐGTD TSA đạt kết quả cao.

(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Kiến thức về văn bản

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Chỉ từ 200k mua trọn bộ Đề thi & Tài liệu ôn thi ĐGNL - ĐGTD năm 2026 của các trường theo cấu trúc mới bản word có lời giải chi tiết:

Quảng cáo

A. LÍ THUYẾT

I. KHÁI QUÁT KIẾN THỨC

1. NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT

1.1. Nhận biết ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

    Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp, ở đó người nói và người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau.

    Ngôn ngữ viết: được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác.

    Ngôn ngữ nói: tình huống tiếp xúc trực tiếp.

    Ngôn ngữ viết: không tiếp xúc trực tiếp

    Mục đích và tình huống giao tiếp sẽ quyết định đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

    * Bảng so sánh sự khác biệt của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Phương diện

NGÔN NGỮ NÓI

NGÔN NGỮ VIẾT

Tình huống giao tiếp

- Tiếp xúc trực tiếp

- Nhân vật giao tiếp trực tiếp, phản hồi tức khắc, có sự đổi vai.

- Người nói ít có điều kiện lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ

- Người nghe ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích

- Không tiếp xúc trực tiếp

- Nhân vật giao tiếp trong phạm vi rộng lớn, thời gian lâu dài, không đổi vai - Người giao tiếp phải biết các kí hiệu chữ viết, qui tắc chính tả, qui cách tổ chức VB.

- Có điều kiện suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ

Phương tiện ngôn ngữ

- Âm thanh

- Chữ viết

Phương tiện hỗ  trợ

- Ngữ điệu

- Nét mặt, ánh mắt

- Cử chỉ, điệu bộ

- Dấu câu

- Hình ảnh minh hoạ

- Sơ đồ, bảng biểu

Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ

- Từ ngữ:

+ Khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ

+ Trợ từ, thán từ, từ ngữ đưa đẩy, chêm xen.

- Câu: Kết cấu linh hoạt (câu tỉnh lược, câu có yếu tố dư thừa...)

- Văn bản: không chặt chẽ, không mạch lạc.

- Từ ngữ:

+ được chọn lọc, gọt giũa

+ sử dụng từ ngữ phổ thông.

- Câu: Câu chặt chẽ, mạch lạc: câu dài nhiều thành phần.

- Văn bản: có kết cấu chặt chẽ, mạch lạc ở mức độ cao.

Quảng cáo

1.2. Những lưu ý trong việc sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

    Trong thực tế, có hai hiện trạng xảy ra với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết:

    Ngôn ngữ nói được ghi lại bằng chữ: Lời đối thoại nhân vật trong truyện, bài phỏng vấn.

    Ngôn ngữ viết trình bày lại bằng lời nói: Thuyết trình, báo cáo...

    Trong tác phẩm truyện, sự mô phỏng tái tạo ngôn ngữ nói bằng ngôn ngữ viết là một đối tượng khảo sát, nghiên cứu thú vị. Sự cộng hưởng giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong văn bản nghệ thuật tạo ra một số hiện tượng đặc biệt về lời văn như lời nửa trực tiếp (lời của người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu nhân vật), lời độc thoại nội tâm (tái hiện tiếng nói bên trong các nhân vật), lời nhại (lời trần thuật mô phỏng quan điểm ý thức của nhân vật với chủ ý mỉa mai hay bông đùa),...

1.3. Ví dụ minh hoạ

    a. Nhận xét các đặc điểm của ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong hai đoạn trích dưới đây

    a1)

Quảng cáo

    Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.

– Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt. à, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười:

– Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã.

– Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.

Thị vẫn đứng cong cớn trước mặt hắn.

– Đây, muốn ăn gì thì ăn.

Hắn vỗ vỗ vào túi:

– Rích bố cu, hở!

Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả:

– Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì.

Thế là thị ngồi sà xuống ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở:

– Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.

Quảng cáo

Hắn cười:

– Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

 (Trích Vợ nhặt – Kim Lân)

    - Tác giả thay vai liên tục từ người kể chuyện đến lời của nhân vật Tràng, thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật Tràng khi thị bất ngờ xuất hiện.

    – Trong lời thoại của nhân vật, tác giả sử dụng những từ cảm thán như “A”, “Hà”, “nhá”, “đấy” và những từ địa phương như “hờ”.

    → Qua cách sử dụng ngôn ngữ nói vào trong văn viết, tác giả giúp người đọc có thể dễ dàng nắm bắt được tâm lí, cảm xúc của nhân vật qua những ngôn từ hết sức gần gũi, cụ thể. Từ đó, làm nổi bật nên cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và trớ trêu trong tình thế khó khăn của hai con người điển hình của nạn đói.

    a2)

    Thoáng nhìn qua, cụ đã hiểu cơ sự rồi. Làm lí trưởng rồi chánh tổng, bây giờ lại đến lượt con cụ làm lí trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì. Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tầng công với chồng:

    - Các bà đi vào nhà; đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì!

    Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:

    – Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?

    Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi. Ai dại gì mà đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. Sau còn trở lại Chí Phèo và cha con cụ bả. Bây giờ cụ mới lại gần hắn khẽ lay mà gọi:

    – Anh Chị ơi! Sao anh lại làm ra thế?

    Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:

    – Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.

    Cụ bà cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười:

    – Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngoé đâu? Lại say rồi phải không?

    Rồi, đổi giọng cụ thân mật hỏi:

    - Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.

    Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:

    – Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì, ta nói chuyện tử tế với nhau. Cần gì mà phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang tiếng cả.

    Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:

    - Khổ quá, giả có tôi ở nhà thì có đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại thằng lí Cường nóng tỉnh, không nghĩ trước nghĩ sau. Ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy.

(Trích Chí Phèo, Nam Cao)

    – Tác giả sử dụng linh hoạt từ ngữ của văn nói như “biết gì”, “ơi”, “rồi”, “ai”...

    → Qua cách sử dụng linh hoạt ngôn ngữ nói, tác giả muốn thể hiện sự gian xảo trong lời nói cũng như con người của bá Kiến, chỉ bằng một vài câu nói ngắn hắn đã có thể xoa dịu được một Chí Phèo say rượu, hung hăng. Trọng lượng của lời nói không chỉ thể hiện ở những câu từ trau chuốt, đôi khi sự đơn giản, dễ hiểu lại có giá trị thuyết phục đối với người nghe cao hơn.

    b. Phân tích các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết trong đoạn trích sau

    b.1. Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khi vẫn lên mùi gây của xác người. [...]

    Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.

(Trích Vợ nhặt, Kim Lân)

    – Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ trong đoạn trích:

    + Dùng các từ ngữ bình dị, gần gũi.

    + Biện pháp nghệ thuật liệt kê, so sánh.

    + Câu văn ngắn cùng cách diễn đạt đơn giản “Người chết như ngả rạ.”, “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào”...

    + Kết hợp với nhiều từ láy mang ý nghĩa biểu tượng “xác xơ”, “ngăn ngắt”, “úp súp”, “heo hút”.

    → gợi lên khung cảnh tang tóc, thê lương của xóm ngụ cư khi cái đói tràn về mà ở đó con người dường như trở thành những bóng ma vật vờ, đợi chờ cái chết.

................................

................................

................................

B. BÀI TẬP VẬN DỤNG

I. CÂU HỎI

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 5:

CÂU CHUYỆN TIẾNG VIỆT

Tôi nghĩ tiếng Việt chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng và nhiều như bây giờ. Trong thời kì quốc tế hoá, toàn cầu hoá, tiếng Việt phải chịu những áp lực lớn hoặc tự thích nghi để phù hợp với tình hình mới.

Bây giờ, gặp những thanh thiếu niên thêm những từ tiếng Anh trong những câu giao tiếp như “good”, “amazing”, “done”, “cancel” không phải là hiếm. Thay vì nói “Em chuyển hàng cho chị lúc 5h chiều” thì người mua hàng ở thành phố sẽ bảo “Ship lúc 5h nhé”, hoặc các cô gái kể với bạn bè “Bọn mình vừa mới check in ở Mộc Châu”, “Hôm nay đi phỏng vấn viết review mà gặp nhiều drama quả”... Các câu bị tỉnh lược nhiều, giảm bớt cả thành phần và đưa những từ tiếng Anh thông dụng vào. [...]

Các ứng dụng trên điện thoại, máy tính, mạng xã hội giúp người ta giao tiếp với nhau dễ dàng nhanh chóng, tiết kiệm hơn nhưng chúng cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hành vi ngôn ngữ. Vì các ứng dụng này khuyến khích sự ngắn gọn, dễ hiểu để tiết kiệm dung lượng và thời gian nên các cụm từ ngắn được sử dụng một cách tối đa, các thành phần câu bị lược bỏ, chỉ dùng những nội dung cốt lõi nhất. Cách sử dụng này có ưu điểm là nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm được cả dung lượng và thời gian viết/ đọc nhưng lâu dài sẽ tạo ra những quán tính nguy hiểm. Đó là cách hành văn thiếu các thành phần, câu què, câu cụt, những từ giàu sắc thái biểu cảm ít được sử dụng hay bị quên lãng. Dần dần chỉ còn những lớp nghĩa trợ khấc, trần trụi được ưa dùng vì tính thực dụng, dễ sử dụng. Nếu giữ mãi thói quen đó, tiếng Việt sẽ thành một ngôn ngữ chỉ còn cái lõi, khô cứng và đơn điệu. [...]

Ngôn ngữ cũng nằm trong quy luật vận động của đời sống, có cái mới được sinh ra và cũng có những thứ bị thay thế nhưng ở mặt nào đó, nếu không có sự giữ gìn, bảo tồn và điều chỉnh thì rất có thể sự giàu đẹp của một ngôn ngữ sẽ bị mất dần đi không thể cứu vãn; điều này đòi hỏi những tư duy và thiết chế cần thiết ở cấp nhà nước cũng như thái độ, suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân riêng biệt.

(Uông Triều, https://antgct.cand.com.vn/Nguoi-trong-cuoc/

cau-chuyen-tieng-viet-i685749/)

Câu 1. Bài viết đề cập đến vấn đề gì của tiếng Việt?

A. Vấn đề sử dụng tiếng Việt ở người trẻ.

B. Vấn đề sử dụng tiếng nước ngoài trong giao tiếp.

C. Vấn đề sử dụng tiếng Việt qua các ứng dụng công nghệ.

D. Vấn đề giữ gìn tiếng Việt trong thời kì toàn cầu hoá.

Câu 2. Tác giả bày tỏ thái độ gì trong bài viết?

A. Lo lắng

B. Suy tư

C. Phê phán

D. Lên án

Câu 3. Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong câu: Đó là cách hành văn thiếu các thành phần, câu què, câu cụt, những từ giàu sắc thái biểu cảm ít được sử dụng hay bị quên lãng.?

A. Hoán dụ

B. Ẩn dụ

C. So sánh

D. Nhân hoá

Câu 4. Câu văn nào thể hiện rõ nhất thái độ của tác giả?

A. Tiếng Việt chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng và nhiều như bây giờ.

B. Trong thời kì quốc tế hoá, toàn cầu hoá, tiếng Việt phải chịu những áp lực lớn hoặc tự thích nghi để phù hợp với tình hình mới.

C. Dần dần chỉ còn những lớp nghĩa trợ khấc, trần trụi được ưa dùng vì tính thực dụng, dễ sử dụng.

D. Các câu bị tỉnh lược nhiều, giảm bớt cả thành phần và đưa những từ tiếng Anh thông dụng vào.

Câu 5. Theo tác giả, cần phải làm gì để giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt?

A. Cần phải có những tư duy đúng đắn.

B. Cần phải có thiết chế cấp nhà nước.

C. Cần phải có thái độ, suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân riêng biệt.

D. Cả A, B và C.

................................

................................

................................

Xem thử Tài liệu & Đề thi HSA Xem thử Tài liệu & Đề thi VACT Xem thử Tài liệu & Đề thi TSA Xem thử Tài liệu & Đề thi SPT

Xem thêm tài liệu ôn thi đánh giá năng lực HSA, VACT, đánh giá tư duy TSA hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học