Ôn thi ĐGNL ĐHQG HN HSA phần Văn học và Ngôn ngữ (siêu chất) | Ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội

Văn học và Ngôn ngữ/ Tư duy định tính là phần bắt buộc trong bài thi Đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội theo cấu trúc mới nhất. Nhằm mục đích giúp Giáo viên & học sinh có thêm tài liệu ôn thi ĐGNL HSA đạt kết quả cao, VietJack giới thiệu bộ tài liệu ôn thi ĐGNL ĐHQG Hà Nội phần Tư duy định tính HSA. Mời các bạn đón đọc:

Ôn thi ĐGNL ĐHQG HN HSA phần Văn học và Ngôn ngữ (siêu chất)

Xem thử

Chỉ từ 200k mua trọn bộ Đề thi & Tài liệu ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2025 (cấu trúc mới) bản word có lời giải chi tiết:

Xem thử

(Ôn thi ĐGNL, ĐGTD) Chuyên đề: Truyện

A. LÍ THUYẾT

I. ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

1. ĐẶC TRƯNG CHUNG CỦA TRUYỆN

    – Trong tiếng Việt, thuật ngữ truyện chỉ tác phẩm văn học là một bản kể có nhân vật, tình huống, diễn biến các sự kiện.... Truyện cũng được xác định là một thể loại tự sự phản ánh đời sống theo nguyên tắc khách quan (khác với thơ là chủ quan). Tính chất khách quan được thể hiện ở chỗ, tác giả thưởng không bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình mà thể hiện nó qua các nhân vật. Nói cách khác, nhân vật là yếu tố mấu chốt của truyện, nơi truyền tải tư tưởng của tác giả.

    – Đặc trưng của truyện so với các thể loại khác được thể hiện qua một số phương diện cơ bản dưới đây:

1.1. Dung lượng

    Dung lượng được hiểu là khả năng phản ánh hiện thực của thể loại. Nếu tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh toàn bộ thế giới trong tính quá trình của nó, thì truyện ngắn là loại hình tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng của nhân vật.

Quảng cáo

1.2. Cốt truyện

    Cốt truyện trong tác phẩm tự sự (thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết...) được tạo nên bởi sự kiện hoặc chuỗi sự kiện được sắp xếp theo một trật tự nhất định (thường là theo trật tự thời gian) thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Không phải mọi sự việc diễn ra trong truyện đều là sự kiện mà đó phải là những sự việc, biến cố quan trọng, làm thay đổi nhận thức, hành động hoặc số phận của nhân vật.

1.3. Truyện kể

    Sự kiện trong cốt truyện được triển khai hoặc liên kết với nhau theo một mạch kể nhất định. Mạch kể này thống nhất với hệ thống chi tiết và lời văn nghệ thuật (bao gồm các thành phần lời kể, lời tả, lời bình luận....) tạo thành truyện kể. Như vậy, truyện kể được hiểu là sự liên kết các sự kiện theo một mạch nhất định.

1.4. Người kể chuyện

    Truyện kể chi tồn tại khi có người kể chuyện. Trong nhiều loại hình tự sự dân gian, người kể chuyện có thể là người trực tiếp diễn xướng để kể lại câu chuyện cho công chúng. Trong tự sự của văn học viết, người kể chuyện là “vai” hay “đại diện” mà nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện việc kể chuyện. Nhờ người kể chuyện, người đọc được dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật của truyện kể, để tri nhận về nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian,... Người kể chuyện cũng khơi dậy ở người đọc những suy tư về ý nghĩa mà truyện kể có thể gợi ra.

Quảng cáo

1.5. Điểm nhìn

    – Điểm nhìn nghệ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ vị trí quan sát của người kể chuyện trong tương quan với nhân vật, sự việc được trần thuật.

    –  Để câu chuyện được kể ra, , nhất thiết phải có người kể chuyện (tức người biết, nhìn thấy và kể lại câu chuyện ấy). Người kể chuyện bao giờ cũng kể câu chuyện từ điểm nhìn nhất định, đó là vị trí để quan sát, trần thuật, đánh giá.

    –  Có thể phân chia điểm nhìn trong tác phẩm tự sự thành nhiều loại khác nhau như: điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể; điểm nhìn bên ngoài (miêu tả sự vật, con người ở những bình diện ngoại hiện, kể về những điều mà nhân vật không biết) và điểm nhìn bên trong (kể và tả qua cảm nhận, ý thức của nhân vật); điểm nhìn không gian (nhìn xa – nhìn gần) và điểm nhìn thời gian (nhìn từ thời điểm hiện tại, miêu tả sự việc như nó đang diễn ra hay nhìn lại quá khứ, kể lại qua lăng kính hồi ức, v.v... Điểm nhìn còn mang tính tâm lí, tư tưởng, gắn liền với vai kể của người kể chuyện hoặc hoàn cảnh, trải nghiệm của nhân vật.

Quảng cáo

    – Câu chuyện được kể có thể gắn với một điểm nhìn thấu suốt mọi sự việc, một quan điểm, một cách đánh giá mang tính định hướng cho người đọc. Nhưng cũng có thể câu chuyện được kể từ nhiều điểm nhìn, gắn với nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau, xoay quanh sự việc hay nhân vật. Điều này tạo nên tính đối thoại của tác phẩm và đặt người đọc vào một vai trò chủ động, tích cực hơn trong việc diễn giải và đánh giá.

1.6. Ngôi kể

    – Người kể chuyện ngôi thứ nhất là người kể xưng “tôi” hoặc một hình thức tự xưng tương đương. Tuỳ theo mức độ tham gia vào mạch vận động cốt truyện, người kể chuyện ngôi thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến, người kể lại câu chuyện được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả “lộ diện”.

 Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường là người kể chuyện hạn tri (không biết hết mọi chuyện), trừ trường hợp ở vai trò tác giả “lộ diện” vận dụng quyền năng “biết hết” của mình.

    Vì người kể chuyện đồng thời là một nhân vật trong truyện nên không biết được những diễn biến trong suy nghĩ, cảm xúc của các nhân vật khác; thường bày tỏ quan điểm và thái độ chủ quan khi thuật chuyện. Trần thuật từ ngôi thứ nhất có ưu điểm là tạo được hiệu quả về tính trực tiếp như đang chứng kiến các sự việc xảy ra, có cơ hội để đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật – người kể. Tuy nhiên, điểm nhìn này lại rất hạn chế trong việc phản ánh toàn cảnh bức tranh xã hội, môi trường hoạt động và tâm lí của các nhân vật khác.

– Người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể. Người kể chuyện ngôi thứ ba có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện, kể cả những biểu hiện sâu kín trong nội tâm nhân vật, do đó được xác định là người kể chuyện toàn tri (biết hết mọi chuyện). Tuy nhiên, người kể chuyện ngôi thứ ba có sử dụng quyền năng toàn tri hay không còn tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức truyện kể của từng tác phẩm.

    Trần thuật từ điểm nhìn toàn tri rất linh hoạt và được dùng rất rộng rãi. Bởi lẽ, trần thuật từ điểm nhìn toàn trị giúp người đọc biết được nhiều thông tin hơn, rõ hơn về nhân vật và sự việc so với việc kể chuyện từ điểm nhìn hạn tri. Tuy nhiên, người đọc ít có được cảm giác kết nối trực tiếp, gần gũi với nhân vật như trần thuật từ điểm nhìn han tri.

    – Người kể chuyện, dù ở ngôi thứ nhất hay thứ ba, đều kể chuyện từ điểm nhìn nhất định, qua hệ thống lời kể. Lời người kể chuyện là lời kể, tả, bình luận của người kể chuyện, có chức năng khắc họa bối cảnh, thời gian, không gian, miêu tả sự việc, nhân vật, thể hiện cách nhìn nhận, thái độ đánh giá đối với sự việc, nhân vật. Lời của người kể chuyện phân biệt với lời của nhân vật, được hiểu là lời nói gắn với ý thức và cách thể hiện của nhân vật trong hình thức lời nói trực tiếp hay gián tiếp.

    – Từ điểm nhìn và hệ thống lời người kể chuyện, lời nhân vật, các phương diện của bức tranh đời sống và nhân vật được hiển hiện để người đọc tri nhận. Quyền năng của người kể chuyện thể hiện ở phạm vi miêu tả, phân tích, lí giải và mức độ định hướng đọc trong việc cắt nghĩa, đánh giá sự kiện, nhân vật được khắc họa trong tác phẩm văn học.

1.7. Nhân vật

    – Nhân vật là hình tượng con người được khắc họa trong tác phẩm văn học bằng các biện pháp nghệ thuật. Cũng có những trường hợp nhân vật trong tác phẩm văn học là thần linh, loài vật, đồ vật.... nhưng khi ấy, chúng sẽ đại diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay khát vọng của con người. Nhân vật là phương tiện để văn học khám phá và cắt nghĩa về con người và cuộc sống.

    – Trong tác phẩm truyện, xét theo vị trí của nhân vật, ta có nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân nhật phụ. Nhân vật chính là nhân vật tham gia vào các sự kiện, biến cố quan trọng của truyện, có chức năng duy trì mạch vận động của cốt truyện. Nhân vật trung tâm là một trong số các nhân vật chính, có vị trí trung tâm, nơi quy tụ mọi mâu thuẫn, gửi chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Các nhân vật còn lại là nhân vật phụ có chức năng bổ sung cho đặc điểm nào đó của nhân vật chính hoặc một khía cạnh nào đó của cốt truyện và chủ đề truyện.

1.8. Lời người kể chuyện và lời nhân vật

    – Lời người kể chuyện và lời nhân vật là những yếu tố cấu thành lớp lời văn nghệ thuật của văn bản tự sự. Lời người kể chuyện gắn với ngôi kể, điểm nhìn, ý thức và giọng điệu của người kể chuyện. Chức năng của nó là miêu tả, trần thuật, đưa ra những phán đoán, đánh giá đối với đối tượng được miêu tả, trần thuật cũng như định hướng việc hình dung, theo dõi mạch kể của người đọc. Trong khi đó, lời nhân vật là ngôn ngữ độc thoại hay đối thoại gắn với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật.

    – Trong văn bản tự sự, đặc biệt ở các thể loại tự sự hiện đại, lời người kể chuyện và lời nhân vật có khả năng kết nối, cộng hưởng, giao thoa với nhau tạo nên một số hiện tượng đặc biệt về lời văn như lời nửa trực tiếp (lời của người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật), lời độc thoại nội tâm (tái hiện tiếng nói bên trong của nhân vật), lời nhại (lời mô phỏng quan điểm, ý thức của nhân vật với chủ ý mia mai hay bông đùa..).

2. ĐẶC TRƯNG MỘT SỐ THỂ LOẠI TRUYỆN

2.1. Truyện dân gian

    * Thần thoại:

    – Thần thoại là những truyện hoang đường, tưởng tượng về các vị thần, các nhân vật anh hùng, nhân vật sáng tạo văn hoá,... phản ánh nhận thức, cách lí giải của con người thời cổ đại về các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội.

    – Thần thoại là thể loại truyện kể xa xưa nhất, thể hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên của con người thời nguyên thuỷ. Căn cứ vào chủ đề, có thể chia thần thoại thành hai nhóm: thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài (thần thoại suy nguyên); thần thoại kể về cuộc chinh phục thiên nhiên và sáng tạo văn hoá (thần thoại sáng tạo). Ra đời trong “tuổi ấu thơ” của loài người nên thần thoại mang tính nguyên hợp: chứa đựng các yếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch sử,... Vì vậy, thần thoại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ di sản văn hoá nguyên thuỷ của cộng đồng.

    + Thần thoại thường có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhân vật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ thần thoại").

    + Không gian trong thần thoại là không gian vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, không xác định nơi chốn cụ thể. Thời gian trong thần thoại là thời gian cổ sơ, không xác định và mang tính vĩnh hằng.

+ Nhân vật chính của thần thoại là các vị thần, hoặc những con người có nguồn gốc thần linh, có năng lực siêu nhiên nên có thể được miêu tả với hình dạng khổng lồ, hoặc với sức mạnh phi thường... Nhân vật thần thoại thường mang tính chức năng, tức nó được sáng tạo để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, quá đó thể hiện quan niệm, cách lí giải và khát vọng của con người.

    + Câu chuyện trong thần thoại gắn liền với thời gian phiếm chỉ mang tính ước lệ và không gian vũ trụ với nhiều cõi khác nhau. Lối tư duy hồn nhiên, chất phác, trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn đã làm nên sức cuốn hút và sức sống lâu bền cho thần thoại.

    * Sử thi

    – Sử thi (còn gọi là anh hùng ca) là tác phẩm tự sự có quy mô lớn, bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp văn vần, xây dựng những hình tượng hào hùng, kì vĩ để kể về những sự kiện lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    – Cốt truyện của sử thi xoay quanh những biến cố trọng đại liên quan đến vận mệnh của toàn thể cộng đồng như chiến tranh hay công cuộc chinh phục thiên nhiên để ổn định và mở rộng địa bàn cư trú.

    – Nhân vật sử thi là người anh hùng đại diện cho sức mạnh, phẩm chất lí tưởng và khát vọng chung của cộng đồng.

    – Không gian sử thi kì vĩ, cao rộng, mang tính cộng đồng, có thể bao quát cả thế giới thần linh và con người. Thời gian sử thi là quá khứ thiêng liêng, thuộc về một thời đại xa xưa được cộng đồng ngưỡng vọng.

    – Lời kể trong sử thi thường ở ngôi thứ ba với thái độ thành kính, trang trọng; nhịp điệu chậm rãi; trần thuật tỉ mỉ, lặp đi lặp lại những từ ngữ khắc họa đặc điểm cố định của nhân vật, sự vật, thường xuyên sử dụng thủ pháp so sánh trùng điệp. Lời người kể chuyện và cả lời nhân vật nhiều khi mang tính khoa trương, cường điệu.

    – Bối cảnh lịch sử - văn hoá: Sử thi ra đời chủ yếu trong giai đoạn xung đột giữa con người với thần quyền, giữa các cộng đồng với nhau, giữa tinh thần tự do của con người và các trật tự của luân lí xã hội.

    – Sử thi không chỉ lưu dấu những biển có quan trọng trong lịch sử của một công đồng, mà còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, hệ giá trị, niềm tin của cộng đồng ấy. Nhiều chủ đề trong sử thi vẫn còn có ý nghĩa lớn đối với nhân loại. Những tác phẩm sử thi như như Ma-ha-bha-ra-ta, Ra-ma-ya-na (Ấn Độ); I-li-at. Ô-đi-xê (Hy Lạp); Đăm Săn (Việt Nam)... vẫn tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tạo thuộc nhiều loại hình nghệ thuật đời sau.

................................

................................

................................

B. BÀI TẬP VẬN DỤNG

I. CÂU HỎI

Câu 1. Yếu tố nào sau đây KHÔNG phải là đặc trưng nổi bật của truyện?

A. Cốt truyện

B. Truyện kể

C. Cảm xúc

D. Nhân vật

Câu 2. Phương án nào nói ĐÚNG NHẤT vai trò của nhân vật chính trong truyện?

A. Nhân vật chính luôn là người kể chuyện.

B. Nhân vật chính là nơi truyền tải tư tưởng của tác giả.

C. Nhân vật chính luôn có kết thúc có hậu.

D. Nhân vật chính phải đối mặt với nhiều khó khăn.

Câu 3. Phương án nào dưới đây thể hiện ĐÚNG NHẤT khái niệm điểm nhìn nghệ thuật trong truyện?

A. Điểm nhìn là quan điểm của tác giả về nhân vật.

B. Điểm nhìn là vị trí quan sát của người kể chuyện đối với nhân vật và sự kiện.

C. Điểm nhìn là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ miêu tả.

D. Điểm nhìn là sự phản ánh của người đọc về câu chuyện.

Câu 4. Chọn từ/ cụm từ thích hợp nhất điền vào chỗ trống trong ngữ liệu dưới đây.

Trong nhiều loại hình tự sự dân gian,_____________có thể là người trực tiếp diễn xướng để kể lại câu chuyện cho công chúng. Trong tự sự của văn học viết, _________________là “vai” hay “đại diện" mà nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện việc kể chuyện.

A. nhân vật

B. tác giả

C. người kể chuyện

D. nghệ sĩ

Câu 5. Phương án nào thể hiện đúng nhất đặc điểm cốt truyện của thần thoại?

A. Phức tạp và nhiều tuyến nhân vật.

B. Đơn giản, thường là cốt truyện đơn tuyến hoặc tổ hợp nhiều cốt truyện đơn tuyến.

C. Không có cốt truyện rõ ràng.

D. Tập trung vào các sự kiện liên quan đến nhân vật chính.

................................

................................

................................

Xem thêm đề thi lớp 12 các môn học có đáp án hay khác:

Đề ôn thi Tốt nghiệp (các môn học), ĐGNL, ĐGTD các trường có đáp án hay khác:

Tài liệu giáo án lớp 12 các môn học chuẩn khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học