(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập và vận dụng - Kết nối tri thức
Bài viết soạn bài Luyện tập và vận dụng trang 159, 160 siêu ngắn gọn sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức giúp học sinh lớp 12 dễ dàng soạn văn 12.
(Siêu ngắn) Soạn bài Luyện tập và vận dụng - Kết nối tri thức
Soạn bài: Ôn tập học kì 1 - Cô Nguyễn Hoa (Giáo viên VietJack)
1. Đọc
Văn bản: Bình đựng lệ - Chế Lan Viên
Câu 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?
Trả lời
Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào khuynh hướng thơ tượng trưng, vì:
- Bài thơ không miêu tả trực tiếp hiện thực mà dùng hình ảnh mang tính biểu tượng (chiếc bình, lệ, hóa thạch, hoa văn…) để gợi suy tư về nỗi đau, thời gian và kiếp người.
- Ý nghĩa được gợi hơn là nói rõ, người đọc phải liên tưởng, giải mã tầng nghĩa ẩn sau hình ảnh.
- Ngôn ngữ giàu tính triết lí, cảm xúc được diễn đạt qua biểu tượng và liên tưởng tượng trưng, đúng đặc trưng thơ tượng trưng.
→ Vì vậy, tác phẩm có thể xem là mang đậm màu sắc thơ tượng trưng.
Câu 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?
Trả lời
- Theo hiểu biết của em, hình ảnh Bình đựng lệ có thể gợi liên tưởng đến câu chuyện Aladin và cây đèn thần, Nghìn lẻ một đêm,…
Câu 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) “Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Bạn căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?
Trả lời
- “Bình đựng lệ” là biểu tượng cho nỗi đau và ký ức con người được thời gian lưu giữ.
- Căn cứ: hình ảnh “lệ” gợi khổ đau, “bình” là vật chứa; cùng các chi tiết về dấu vết còn lại theo thời gian trong bài thơ cho thấy ý nghĩa biểu tượng ấy.
Câu 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?
Trả lời
- Những câu thơ sau: “Chiếc bình tuột khỏi tay nhân loại/ Lại về trở lại” ; “Ờ, Thế mà chẳng có gì mất hết/ Chiếc bình kia vẫn còn”
- Trải nghiệm cá nhân: Những trải nghiệm từ cuộc sống, những nỗi đau vẫn hằn in từng này khiến bình đựng lệ vẫn tồn tại vĩnh cửu. Dòng chảy thời gian có thể cuốn trôi đi bao nhiêu, nhưng những vết thương lòng vẫn còn đó, hằn sâu trong tâm hồn mỗi con người. Nỗi đau ấy như những giọt lệ đắng cay, chất chứa bao nhiêu uất hận, tủi nhục, khiến cho "bình đựng lệ" mãi mãi không thể cạn.
Câu 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Trả lời
- Những thủ pháp đối lập được tác giả sử dụng: nhớ- quên, vứt bỏ - nhặt lên.
- Hiệu quả nghệ thuật: giúp ta thấy được sự trường tồn bất tử của bình đựng lệ ; như một vòng tuần hoàn mãi mãi không bao giờ kết thúc.
Câu 6 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.
Trả lời
Bài thơ mang màu sắc nghị luận rõ nét qua các dấu hiệu:
- Nhiều câu thơ mang tính suy ngẫm, triết lí, thiên về lí giải hơn miêu tả cảm xúc thuần túy.
- Sử dụng hình ảnh biểu tượng để bàn luận về đời người và thời gian.
- Giọng điệu trầm tĩnh, chiêm nghiệm, giống lời tự vấn, lập luận nội tâm.
→ Nhờ đó, bài thơ vừa giàu cảm xúc vừa mang tính tư tưởng sâu sắc.
Câu 7 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
Trả lời
Trong hành trình cùng Chế Lan Viên trong tác phẩm "Bình đựng lệ", chúng ta bị cuốn vào dòng cảm xúc mãnh liệt, nơi những giọt lệ đắng như chứng nhận cho những vết thương lòng dai dẳng, không tan biến theo thời gian. Nỗi đau giống như những "bình đựng lệ" mãi mãi không biến mất, gợi mở sự đồng cảm sâu sắc và suy ngẫm về bản chất của nỗi đau trong cuộc sống. Hình ảnh "bình đựng lệ" là một ẩn dụ, mang trong đó triết lý về sự tồn tại vĩnh cửu của những vết thương lòng. Trong cuộc sống, không ai có thể tránh khỏi những biến cố và thử thách, những mất mát và tổn thương. Nỗi đau ấy như những giọt lệ âm thầm chảy, xâm nhập vào tâm hồn, tạo thành những vết sẹo sâu không thể phai nhạt. Đó là chứng nhận cho những trải nghiệm khắc nghiệt, những tổn thương sâu sắc. Con người ẩn giấu nỗi đau, gói gọn nó trong những chiếc bình đựng lệ rồi tung ra biển khơi. Đó là cách con người mong muốn trốn tránh nỗi đau hoặc làm cho nó biến mất, nhằm tránh đối mặt với hiện thực khắc nghiệt.
2. Viết
Đề 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.
Bài viết tham khảo
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 đã hướng ngòi bút vào số phận con người lao động trong những biến động lớn của lịch sử dân tộc. Hai truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là những tác phẩm tiêu biểu cùng viết về người lao động nghèo trước Cách mạng tháng Tám, nhưng mỗi tác phẩm lại mang một cách tiếp cận riêng, góp phần làm nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của văn học thời kì này.
Điểm gặp gỡ của hai tác phẩm nằm ở việc phản ánh số phận bi thảm của người lao động dưới ách áp bức. Trong Vợ nhặt, nạn đói năm 1945 hiện lên khủng khiếp qua hình ảnh những con người “xanh xám như bóng ma”, cái chết rình rập khắp nơi. Nhân vật Tràng và người vợ nhặt đều là những con người ở đáy xã hội, bị cái đói đẩy đến bước đường cùng, đến mức chuyện hôn nhân - vốn thiêng liêng - lại diễn ra chóng vánh chỉ bằng vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc. Còn trong Vợ chồng A Phủ, người dân miền núi Tây Bắc lại chịu sự áp bức của cường quyền và thần quyền. Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ, sống kiếp nô lệ không lối thoát; A Phủ trở thành kẻ bị bóc lột đến tận cùng sức lực. Cả hai tác phẩm đều cho thấy xã hội cũ đã tước đoạt quyền sống và nhân phẩm của con người.
Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại khám phá con người từ những góc nhìn khác nhau. Kim Lân tập trung khắc họa vẻ đẹp của tình người trong hoàn cảnh đói khát. Giữa ranh giới sống – chết, con người vẫn hướng về mái ấm gia đình. Việc Tràng “nhặt” vợ không chỉ là sự liều lĩnh mà còn thể hiện khát vọng được sống, được yêu thương. Không khí bữa cơm ngày đói tuy nghèo nàn nhưng ấm áp tình thân đã làm sáng lên niềm hi vọng về tương lai. Ngược lại, Tô Hoài đi sâu vào quá trình thức tỉnh ý thức phản kháng của con người. Mị từ chỗ cam chịu, tê liệt cảm xúc đã dần hồi sinh sức sống nội tâm, đặc biệt trong đêm mùa xuân và hành động cắt dây trói cứu A Phủ. Từ đó, nhân vật bước sang hành trình tự giải phóng, tìm đến con đường cách mạng.
Sự khác biệt còn thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và bối cảnh. Vợ nhặt diễn ra chủ yếu trong không gian làng quê đồng bằng Bắc Bộ với tình huống truyện độc đáo: nhặt được vợ giữa nạn đói. Tình huống ấy vừa éo le vừa giàu tính nhân văn, làm nổi bật ánh sáng của tình người trong bóng tối. Trong khi đó, Vợ chồng A Phủ mở ra không gian núi rừng Tây Bắc rộng lớn, đậm màu sắc phong tục và văn hóa dân tộc miền núi. Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế cùng chất sử thi đã tạo nên sức sống mạnh mẽ cho hành trình giải phóng của nhân vật.
Dù khác nhau về bút pháp, cả hai tác phẩm đều gặp nhau ở giá trị nhân đạo sâu sắc. Kim Lân phát hiện vẻ đẹp của lòng nhân ái và niềm tin vào tương lai ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Tô Hoài khẳng định sức sống tiềm tàng và khả năng vùng lên của con người khi ánh sáng cách mạng soi đường. Qua đó, các nhà văn không chỉ tố cáo xã hội tàn bạo mà còn ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và khát vọng sống mãnh liệt của người lao động.
Có thể nói, Vợ nhặt thiên về ánh sáng của tình người, còn Vợ chồng A Phủ nhấn mạnh sức mạnh phản kháng và con đường giải phóng. Hai tác phẩm bổ sung cho nhau, góp phần khắc họa toàn diện hình ảnh người lao động Việt Nam trước Cách mạng: vừa giàu lòng nhân hậu, vừa tiềm ẩn sức sống bền bỉ và khát vọng đổi đời. Chính sự kết hợp giữa giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo ấy đã làm nên sức sống lâu bền của hai truyện ngắn trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Đề 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) So sánh hai tác phẩm thơ cùng thể hiện chủ đề thiên nhiên, đất nước hoặc tình yêu được sáng tác theo những phong cách nghệ thuật khác nhau.
Bài viết tham khảo
Đất nước là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam hiện đại. Tuy cùng viết về Tổ quốc, mỗi nhà thơ lại lựa chọn một cách thể hiện riêng phù hợp với cảm hứng và phong cách nghệ thuật của mình. Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm và Tây Tiến của Quang Dũng là hai tác phẩm tiêu biểu cùng thể hiện tình yêu đất nước nhưng được sáng tác theo hai phong cách khác nhau: trữ tình – chính luận và lãng mạn – hào hùng.
Điểm gặp gỡ của hai bài thơ nằm ở tình cảm sâu nặng dành cho đất nước và con người Việt Nam. Trong Tây Tiến, đất nước hiện lên qua hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, gắn với bước chân người lính.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm /
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”.
Thiên nhiên vừa dữ dội vừa thơ mộng đã làm nổi bật vẻ đẹp của Tổ quốc trong khói lửa chiến tranh. Còn trong Đất Nước, đất nước được nhìn từ chiều sâu văn hóa và đời sống nhân dân. Nhà thơ không miêu tả đất nước bằng những chiến công lớn lao mà bằng những điều gần gũi như phong tục, truyền thống, ca dao, đời sống lao động.
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ thường hay kể
...
Dù khác cách thể hiện, cả hai bài thơ đều khẳng định đất nước gắn bó mật thiết với con người và được tạo nên bởi những con người bình dị.
Tuy nhiên, sự khác biệt rõ nhất nằm ở phong cách nghệ thuật. Tây Tiến mang đậm cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi.
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc /
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Quang Dũng khắc họa thiên nhiên bằng bút pháp phóng khoáng, giàu chất hội họa và âm nhạc: núi cao, dốc thẳm, sông sâu hiện lên dữ dội nhưng cũng đầy chất thơ. Hình tượng người lính vừa hào hoa, vừa bi tráng, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu hình ảnh, tạo nên giọng điệu hào hùng mà vẫn lãng mạn.
Ngược lại, Đất Nước thể hiện phong cách trữ tình – chính luận đặc trưng của thơ thời chống Mỹ.
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn...”
Nguyễn Khoa Điềm sử dụng giọng thơ tâm tình, suy tưởng, kết hợp lí lẽ với cảm xúc để lí giải cội nguồn đất nước. Đất nước không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành thành quả của nhân dân qua bao thế hệ. Ngôn ngữ thơ gần gũi, mang màu sắc dân gian, tạo cảm giác vừa sâu sắc vừa thân thuộc. Nếu Quang Dũng làm nổi bật vẻ đẹp đất nước qua hình tượng người lính, thì Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong việc làm nên đất nước.
Sự khác biệt ấy còn thể hiện ở cách tiếp cận hình tượng trung tâm. Tây Tiến nhìn đất nước từ góc nhìn người chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, vì thế cảm hứng chủ đạo là vẻ đẹp bi tráng của lí tưởng hi sinh. Trong khi đó, Đất Nước nhìn đất nước từ góc độ văn hóa – lịch sử, hướng người đọc đến ý thức trách nhiệm cá nhân đối với Tổ quốc. Một bên thiên về cảm xúc mãnh liệt, một bên thiên về suy tư và nhận thức.
Dù khác phong cách, cả hai bài thơ đều góp phần làm phong phú hình tượng đất nước trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Tây Tiến khắc họa đất nước hào hùng trong chiến đấu, còn Đất Nước làm nổi bật đất nước của nhân dân, của truyền thống và chiều sâu văn hóa. Hai tác phẩm bổ sung cho nhau, giúp người đọc cảm nhận đất nước vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, vừa lớn lao trong lịch sử, vừa hiện diện trong đời sống mỗi con người.
Có thể nói, chính sự đa dạng phong cách nghệ thuật đã làm nên vẻ đẹp nhiều chiều của thơ ca Việt Nam. Qua hai bài thơ, tình yêu đất nước không chỉ được thể hiện bằng cảm xúc lãng mạn mà còn bằng suy tư trách nhiệm, góp phần khẳng định sức sống bền bỉ của chủ đề đất nước trong văn học dân tộc.
Đề 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Phân tích, đánh giá việc khai thác các chủ đề, hình tượng, mô típ của sáng tác dân gian (ca dao, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích) trong một tác phẩm văn học hiện đại.
Bài viết tham khảo
Phân tích, đánh giá việc khai thác chất liệu dân gian trong bài thơ Đất Nước
Văn học hiện đại Việt Nam thường kế thừa và sáng tạo từ nguồn mạch văn học dân gian nhằm làm giàu chiều sâu văn hóa dân tộc. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho sự vận dụng thành công các chủ đề, hình tượng và mô típ dân gian là đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. Bằng việc khai thác ca dao, truyền thuyết, cổ tích và phong tục dân gian, nhà thơ đã tạo nên một cách cảm nhận mới mẻ về đất nước: đất nước của nhân dân và do nhân dân làm nên.
Trước hết, tác giả khai thác chủ đề dân gian về cội nguồn dân tộc. Trong văn học dân gian, đất nước thường gắn với truyền thuyết dựng nước và giữ nước, với đời sống lao động và sinh hoạt cộng đồng. Nguyễn Khoa Điềm không định nghĩa đất nước bằng những khái niệm trừu tượng mà bắt đầu từ những điều quen thuộc:
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”.
Hình ảnh “miếng trầu” gợi phong tục truyền thống lâu đời của người Việt, đồng thời gợi nhớ đến truyện cổ tích Trầu Cau. Qua đó, đất nước hiện lên từ chiều sâu văn hóa dân gian, gần gũi với đời sống nhân dân.
Bên cạnh chủ đề, bài thơ còn sử dụng nhiều hình tượng dân gian quen thuộc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Hình ảnh “tóc mẹ thì bới sau đầu”, “gừng cay muối mặn”, hay những câu ca dao về tình nghĩa vợ chồng đều được đưa vào thơ một cách tự nhiên. Những hình tượng ấy vốn xuất phát từ ca dao, tục ngữ, phản ánh đạo lí thủy chung và lối sống nghĩa tình của người Việt. Nhờ vậy, đất nước không còn là khái niệm địa lí mà trở thành không gian văn hóa sống động, được hình thành từ đời sống tinh thần của nhân dân qua nhiều thế hệ.
Ngoài ra, tác giả còn vận dụng mô típ dân gian như truyền thuyết và thần thoại để mở rộng ý nghĩa đất nước.
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những chi tiết gợi nhắc truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, Thánh Gióng hay các địa danh gắn với huyền thoại dân tộc đã tạo nên cảm giác đất nước được kết tinh từ lịch sử và trí tưởng tượng nhân dân. Đặc biệt, câu thơ: “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” đã khái quát trực tiếp vai trò của văn học dân gian trong việc hình thành ý thức dân tộc.
Điểm đặc sắc là Nguyễn Khoa Điềm không sao chép dân gian mà tái sáng tạo chất liệu ấy theo tinh thần hiện đại. Các yếu tố ca dao, truyền thuyết được đặt trong mạch suy tưởng chính luận, giúp bài thơ vừa mang âm hưởng truyền thống vừa thể hiện tư duy mới của thời đại chống Mỹ: khẳng định trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước. Nhờ đó, dân gian trở thành nền tảng để nhà thơ gửi gắm tư tưởng chính trị và nhân văn sâu sắc.
Việc khai thác sáng tạo chất liệu dân gian đã đem lại nhiều hiệu quả nghệ thuật quan trọng. Nó tạo nên giọng thơ gần gũi, giàu bản sắc dân tộc; làm tăng sức gợi cảm và chiều sâu văn hóa cho tác phẩm; đồng thời giúp hình tượng đất nước trở nên vừa thiêng liêng vừa đời thường. Quan trọng hơn, tác phẩm khẳng định rằng đất nước không thuộc về riêng ai mà là kết quả của bao thế hệ nhân dân bình dị.
Đất Nước là minh chứng tiêu biểu cho sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Việc vận dụng các chủ đề, hình tượng và mô típ dân gian không chỉ làm phong phú giá trị nghệ thuật mà còn góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ca hiện đại Việt Nam.
Đề 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Viết bài văn nghị luận về vấn đề: Thanh niên và việc xác lập giá trị sống.
Bài viết tham khảo
Mỗi thời đại đều đặt ra cho con người những câu hỏi lớn về cách sống và ý nghĩa tồn tại. Đối với thanh niên – lực lượng trẻ trung, năng động và giàu khát vọng – việc xác lập giá trị sống càng trở nên quan trọng, bởi đó chính là nền tảng định hướng hành động, lựa chọn tương lai và đóng góp cho xã hội. Trong bối cảnh hiện đại với nhiều cơ hội lẫn thách thức, việc xây dựng hệ giá trị sống đúng đắn là nhiệm vụ thiết yếu của người trẻ.
Giá trị sống có thể hiểu là những nguyên tắc, niềm tin và mục tiêu mà mỗi người xem là quan trọng, từ đó định hướng cách suy nghĩ và hành động. Với thanh niên, giá trị sống không chỉ quyết định con đường cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cộng đồng. Khi người trẻ xác định được mục tiêu sống tích cực, họ sẽ có động lực học tập, lao động và hoàn thiện bản thân. Ngược lại, nếu thiếu định hướng giá trị, thanh niên dễ rơi vào trạng thái sống thụ động, chạy theo xu hướng nhất thời hoặc đánh mất bản thân trước những cám dỗ của xã hội.
Trong xã hội hiện nay, thanh niên có nhiều điều kiện để xác lập giá trị sống đa dạng. Sự phát triển của khoa học – công nghệ mở ra cơ hội học tập và giao lưu rộng lớn, giúp người trẻ tiếp cận nhiều hệ tư tưởng và lối sống khác nhau. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy cũng đặt ra thách thức: không ít người trẻ bị cuốn vào lối sống thực dụng, đề cao vật chất, danh tiếng ảo trên mạng xã hội mà xem nhẹ tri thức, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, việc lựa chọn giá trị sống cần dựa trên sự tỉnh táo và nhận thức đúng đắn về bản thân cũng như cộng đồng.
Một hệ giá trị sống tích cực của thanh niên cần được xây dựng trên nhiều yếu tố. Trước hết là lí tưởng sống – sống có mục tiêu, có khát vọng cống hiến thay vì chỉ tìm kiếm lợi ích cá nhân. Bên cạnh đó là tinh thần học hỏi và sáng tạo, bởi tri thức chính là nền tảng giúp người trẻ thích ứng với thế giới luôn biến đổi. Ngoài ra, trách nhiệm với xã hội và lòng nhân ái cũng là những giá trị cốt lõi, giúp thanh niên không sống ích kỉ mà biết sẻ chia, đóng góp cho cộng đồng. Khi cá nhân phát triển hài hòa giữa năng lực và đạo đức, giá trị sống mới thực sự bền vững.
Để xác lập giá trị sống đúng đắn, thanh niên cần bắt đầu từ việc hiểu rõ bản thân: điểm mạnh, điểm yếu, đam mê và trách nhiệm của mình. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng thông qua giáo dục, môi trường sống và những tấm gương tích cực. Quan trọng hơn cả là khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh của mỗi người trẻ trước những lựa chọn trong cuộc sống.
Thực tế cho thấy, nhiều thanh niên Việt Nam ngày nay đã khẳng định giá trị sống tích cực thông qua học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động thiện nguyện hay khởi nghiệp sáng tạo. Họ không chỉ theo đuổi thành công cá nhân mà còn mong muốn đóng góp cho đất nước. Những hình ảnh ấy chứng minh rằng khi giá trị sống được xác lập đúng đắn, thanh niên có thể trở thành nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển.
Việc xác lập giá trị sống là hành trình quan trọng đối với mỗi người trẻ. Một giá trị sống đúng đắn sẽ giúp thanh niên định hướng tương lai, vượt qua thử thách và sống có ý nghĩa. Trong thời đại nhiều biến động, thanh niên càng cần bản lĩnh, tri thức và trách nhiệm để lựa chọn con đường sống tích cực, qua đó khẳng định giá trị bản thân và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Đề 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Xây dựng đề cương cho bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề liên quan đến sinh hoạt học đường.
Đề cương tham khảo
a) Đặt vấn đề
- Lí do chọn đề tài: Mạng xã hội ngày càng phổ biến, tác động rõ rệt đến học tập và đời sống học đường.
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng sử dụng mạng xã hội và ảnh hưởng của nó đối với học sinh.
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Học sinh trong môi trường học đường (trường/lớp khảo sát).
- Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát, quan sát, thu thập và phân tích tài liệu.
b) Giải quyết vấn đề
- Cơ sở lí luận: Khái niệm mạng xã hội và vai trò trong đời sống học sinh.
- Thực trạng
+ Thời gian, mục đích sử dụng mạng xã hội của học sinh.
+ Biểu hiện trong học tập và sinh hoạt hằng ngày.
- Tác động
+ Tích cực: hỗ trợ học tập, mở rộng giao tiếp, cập nhật thông tin.
+ Tiêu cực: giảm tập trung học tập, lệ thuộc thiết bị, ảnh hưởng tâm lí.
- Nguyên nhân
+ Thiếu kĩ năng quản lí thời gian.
+ Tác động từ bạn bè, xu hướng xã hội.
+ Thiếu định hướng sử dụng hợp lí.
- Giải pháp
+ Học sinh tự điều chỉnh thói quen sử dụng.
+ Gia đình và nhà trường hướng dẫn, kiểm soát phù hợp.
+ Tăng cường hoạt động học đường và ngoại khóa lành mạnh.
c) Kết luận
- Khái quát kết quả nghiên cứu.
- Khẳng định việc sử dụng mạng xã hội cần có định hướng đúng đắn.
- Đề xuất nâng cao ý thức sử dụng công nghệ tích cực trong sinh hoạt học đường.
3. Nói và nghe
Nội dung 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Thuyết trình về một tác phẩm truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.
Bài nói tham khảo
Kính thưa thầy cô và các bạn, hôm nay tôi xin trình bày về cuốn sách Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? – một tác phẩm mang đến cách nhìn mới mẻ về đời sống và khát vọng của người trẻ trong xã hội hiện đại.
Tác phẩm không xây dựng cốt truyện theo kiểu truyền thống mà kết hợp giữa tự sự, trải nghiệm cá nhân và những suy ngẫm mang tính định hướng. Chính cấu trúc này đã tạo nên sự mới mẻ: người viết không đứng ở vị trí “dạy bảo” mà như một người đi trước đang trò chuyện với những người trẻ đang loay hoay tìm đường. Điều đó khiến tác phẩm gần gũi với tâm lí tuổi hai mươi - độ tuổi cần sự đồng cảm hơn là những lời phán xét.
Điểm đặc sắc đầu tiên của tác phẩm là cách nhìn thẳng vào thực tế đời sống người trẻ hiện đại. Tác giả không tô hồng tuổi trẻ mà chỉ ra nhiều vấn đề quen thuộc: sự trì hoãn, thiếu mục tiêu, sống thụ động hoặc chạy theo thành công nhanh chóng. Thay vì phê phán, tác phẩm đặt câu hỏi để người đọc tự suy nghĩ: tuổi trẻ thực sự có ý nghĩa khi nào? Thành công có phải chỉ đo bằng tiền bạc hay địa vị? Những câu hỏi ấy phản ánh đúng tâm trạng của nhiều người ở tuổi hai mươi - vừa khao khát khẳng định bản thân vừa lo sợ thất bại.
Bên cạnh đó, tác phẩm đề cao tinh thần trải nghiệm như con đường quan trọng để trưởng thành. Tác giả nhấn mạnh việc đọc sách, học hỏi, đi xa và dấn thân vào thực tế đời sống. Quan niệm này thể hiện một cách tiếp cận hiện đại: trưởng thành không đến từ lí thuyết mà từ trải nghiệm cá nhân. Tuổi hai mươi vì thế không phải giai đoạn phải hoàn hảo, mà là thời gian được phép thử sai để hiểu mình hơn.
Một điểm mới nữa là cách tác phẩm nhìn nhận khát vọng cá nhân. Thay vì áp đặt một hình mẫu thành công chung, tác giả khuyến khích mỗi người tìm con đường riêng. Thành công không phải trở thành ai đó giống người khác, mà là trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Đây là tư tưởng phù hợp với xã hội hiện đại - nơi giá trị cá nhân và bản sắc riêng ngày càng được đề cao.
Về nghệ thuật, ngôn ngữ của tác phẩm giản dị, trực tiếp, giàu tính trò chuyện. Nhiều đoạn văn mang giọng điệu tâm tình, tạo cảm giác như một cuộc đối thoại chân thành giữa những người trẻ. Chính sự gần gũi này giúp thông điệp dễ tiếp nhận và tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến độc giả. Tác phẩm không gây ấn tượng bằng những tình tiết kịch tính mà bằng sức thuyết phục của trải nghiệm thật và cảm xúc thật.
Quan trọng hơn, tác phẩm đã thay đổi cách nhìn về tuổi hai mươi. Tuổi trẻ không còn bị xem là quãng thời gian phải thành công ngay lập tức, mà là hành trình khám phá bản thân. Sai lầm không còn là thất bại mà trở thành một phần cần thiết của trưởng thành. Cách tiếp cận này giúp người trẻ giảm áp lực và có cái nhìn tích cực hơn về tương lai.
Có thể nói, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? đã mang đến một tiếng nói mới trong việc thể hiện đời sống và khát vọng tuổi hai mươi. Tác phẩm không đưa ra câu trả lời sẵn có mà khơi gợi quá trình tự nhận thức của mỗi người. Giá trị lớn nhất của cuốn sách nằm ở việc truyền cảm hứng sống chủ động, dám trải nghiệm và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
Từ tác phẩm, có thể nhận ra rằng tuổi hai mươi không được đo bằng thành tựu đạt được, mà bằng những gì con người học hỏi và trưởng thành trên hành trình sống. Chính tinh thần ấy đã khiến tác phẩm trở thành người bạn đồng hành của nhiều bạn trẻ trong quá trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời và xây dựng tương lai của chính mình.
Xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Nội dung 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Thuyết trình về mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trong sáng tác văn học qua phân tích một số tác phẩm cụ thể lấy từ văn học Việt Nam (thơ, kịch, truyện).
Bài nói tham khảo
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Trong lịch sử văn học, không có tác phẩm nào ra đời hoàn toàn tách biệt khỏi truyền thống. Văn học luôn vận động trên cơ sở kế thừa và đổi mới. Vì vậy, hôm nay em xin được trình bày vấn đề mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trở thành một quy luật quan trọng của quá trình sáng tác. Vay mượn không đồng nghĩa với sao chép, mà chính là điểm khởi đầu để nhà văn sáng tạo nên những giá trị mới. Qua một số tác phẩm thơ, truyện và kịch của văn học Việt Nam, có thể thấy rõ sự gắn bó chặt chẽ giữa hai yếu tố này.
Trước hết, vay mượn trong văn học thường thể hiện ở việc tiếp nhận đề tài, cốt truyện, hình tượng hoặc thi pháp từ văn học dân gian hay văn học nước ngoài. Tuy nhiên, giá trị của tác phẩm nằm ở cách nhà văn biến đổi chất liệu ấy thành sáng tạo mang dấu ấn cá nhân và thời đại.
Một minh chứng tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tác phẩm dựa trên cốt truyện tiểu thuyết Trung Quốc Kim Vân Kiều truyện, nhưng Nguyễn Du không chỉ kể lại câu chuyện cũ. Ông đã sáng tạo bằng cách chuyển thể sang thể thơ lục bát dân tộc, khắc họa sâu sắc số phận con người và gửi gắm tư tưởng nhân đạo mới mẻ. Nhân vật Thúy Kiều trở thành biểu tượng cho thân phận con người trong xã hội phong kiến Việt Nam, chứ không còn là nhân vật của nguyên tác Trung Hoa. Như vậy, vay mượn cốt truyện chỉ là nền tảng, còn giá trị bất hủ nằm ở sáng tạo nghệ thuật và chiều sâu cảm xúc.
Trong thơ hiện đại, sự kết hợp giữa vay mượn và sáng tạo cũng rất rõ nét. Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng chịu ảnh hưởng của bút pháp lãng mạn phương Tây và thơ ca cổ điển, thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ và cảm hứng bi tráng. Tuy nhiên, nhà thơ đã sáng tạo khi đưa vào trải nghiệm thực của người lính Việt Nam trong kháng chiến. Hình tượng người lính vừa hào hoa vừa gian khổ đã tạo nên nét riêng không thể trộn lẫn, chứng minh rằng tiếp thu ảnh hưởng bên ngoài có thể làm giàu thêm bản sắc dân tộc.
Ở thể loại kịch, sự vay mượn còn thể hiện ở việc tiếp nhận mô hình hài kịch phương Tây. Vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến kế thừa nhiều yếu tố sân khấu dân gian và cấu trúc gây cười quen thuộc, nhưng lại sáng tạo ở việc phê phán thói tham lam, giả dối của tầng lớp quan lại phong kiến Việt Nam. Tiếng cười trào phúng vừa mang tính giải trí vừa thể hiện tinh thần phê phán xã hội sâu sắc, chứng tỏ sự sáng tạo trong quá trình tiếp biến nghệ thuật.
Từ các ví dụ trên, có thể thấy mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo là quan hệ bổ sung chứ không đối lập. Vay mượn giúp nhà văn tiếp cận nguồn chất liệu phong phú của nhân loại, còn sáng tạo giúp tác phẩm mang bản sắc riêng. Nếu chỉ vay mượn mà không sáng tạo, tác phẩm sẽ trở thành bản sao thiếu sức sống; ngược lại, nếu phủ nhận truyền thống, sáng tác sẽ mất đi nền tảng văn hóa.
Hơn nữa, sự sáng tạo thường thể hiện ở ba phương diện chính: biến đổi hình thức nghệ thuật, làm mới nội dung tư tưởng và gắn tác phẩm với bối cảnh xã hội cụ thể. Nhờ vậy, cùng một chất liệu cũ nhưng mỗi thời đại lại sản sinh những tác phẩm hoàn toàn mới.
Tóm lại, lịch sử văn học Việt Nam cho thấy sáng tạo luôn nảy sinh từ quá trình kế thừa và tiếp biến. Vay mượn là điểm xuất phát, còn sáng tạo là đích đến của nghệ thuật. Chính sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này đã giúp văn học không ngừng đổi mới mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc, đồng thời khẳng định tài năng và dấu ấn riêng của mỗi nhà văn trong dòng chảy văn hóa nhân loại.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nội dung 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Thảo luận về đề tài tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến trước các vấn đề đời sống.
Bài nói tham khảo
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin trình bày về một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống hiện đại, đặc biệt đối với giới trẻ, đó là: tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến trước các vấn đề đời sống.
Trong xã hội ngày nay, con người không chỉ sống, học tập và làm việc mà còn luôn bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề xung quanh: từ học đường, gia đình cho đến các vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Mỗi cá nhân đều có suy nghĩ riêng, cách nhìn riêng, vì vậy quyền được nói lên ý kiến cá nhân trở thành một nhu cầu tự nhiên và chính đáng. Khi một người được lắng nghe, họ cảm thấy mình có giá trị, được tôn trọng và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Trước hết, việc tôn trọng quyền phát biểu chủ kiến góp phần tạo nên một xã hội dân chủ và tiến bộ. Không có ý kiến nào hoàn toàn giống nhau, và chính sự khác biệt ấy giúp con người nhìn nhận vấn đề đa chiều hơn. Khi nhiều quan điểm được đưa ra, chúng ta có cơ hội so sánh, phản biện và lựa chọn giải pháp hợp lí nhất. Trong môi trường học đường, nếu học sinh được khuyến khích nêu ý kiến, đặt câu hỏi hay tranh luận, việc học sẽ trở nên chủ động và sáng tạo hơn thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức một chiều.
Đối với thanh niên, quyền phát biểu chủ kiến còn giúp hình thành bản lĩnh cá nhân. Khi dám nói lên suy nghĩ của mình, người trẻ học được cách tư duy độc lập, biết bảo vệ quan điểm đúng đắn và chịu trách nhiệm với lời nói của bản thân. Đây cũng là nền tảng để xây dựng năng lực phản biện – một kĩ năng rất cần thiết trong xã hội hiện đại, nơi thông tin luôn đa dạng và đôi khi trái chiều.
Tuy nhiên, quyền phát biểu ý kiến không đồng nghĩa với việc nói bất cứ điều gì mình muốn. Tự do luôn đi kèm trách nhiệm. Một ý kiến có giá trị cần dựa trên hiểu biết, sự tôn trọng và tinh thần xây dựng. Việc phát biểu thiếu kiểm chứng, xúc phạm người khác hoặc lan truyền thông tin sai lệch không phải là thực hiện quyền cá nhân mà là làm tổn hại đến cộng đồng. Vì vậy, mỗi người cần học cách nói đúng lúc, đúng mực và có văn hóa.
Bên cạnh đó, để quyền phát biểu chủ kiến được bảo vệ, xã hội cần xây dựng môi trường giao tiếp cởi mở và an toàn. Trong gia đình, cha mẹ nên lắng nghe con cái thay vì áp đặt. Trong nhà trường, thầy cô cần khuyến khích học sinh trao đổi, tranh luận văn minh. Ngoài xã hội, mỗi người cũng nên học cách lắng nghe với thái độ tôn trọng, bởi lắng nghe chính là bước đầu tiên để thấu hiểu.
Thực tế cho thấy nhiều người, đặc biệt là người trẻ, còn e ngại bày tỏ quan điểm vì sợ bị phán xét hoặc phủ nhận. Điều này khiến nhiều ý tưởng tích cực không được chia sẻ. Vì vậy, việc bảo vệ quyền phát biểu chủ kiến không chỉ là bảo vệ quyền nói, mà còn là xây dựng văn hóa lắng nghe – nơi mọi ý kiến đều được tiếp nhận bằng sự tôn trọng và tinh thần đối thoại.
Tóm lại, tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến là yếu tố quan trọng giúp con người phát triển toàn diện và giúp xã hội ngày càng tiến bộ. Khi mỗi cá nhân được nói lên suy nghĩ của mình một cách văn minh và có trách nhiệm, cộng đồng sẽ trở nên cởi mở, sáng tạo và nhân văn hơn.
Bài trình bày của em xin được kết thúc tại đây. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
Bài giảng: Ôn tập học kì 1 - Cô Phương Thảo (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức siêu ngắn, hay khác:
- Tri thức ngữ văn trang 4
- Tác gia Hồ Chí Minh
- Tuyên ngôn độc lập
- Mộ, Nguyên tiêu
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 12 hay khác:
- Soạn văn 12 Kết nối tri thức (hay nhất)
- Soạn văn 12 Kết nối tri thức (ngắn nhất)
- Soạn văn 12 Kết nối tri thức (siêu ngắn)
- Soạn Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức
- Giải lớp 12 Kết nối tri thức (các môn học)
- Giải lớp 12 Chân trời sáng tạo (các môn học)
- Giải lớp 12 Cánh diều (các môn học)
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

